Ngày xuân kể chuyện Lễ

Thứ hai - 23/02/2015 07:58
Xuân đến tiết trời ấm áp, cây cối xanh tươi, muôn thú cùng nô đùa ca hát. Đất, Trời tựa như giao hoà, lòng người thăng hoa nên đã tổ chức nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống; nhưng không quên tạ ơn Trời, Đất, Tổ tiên, Thần thánh... đã phù hộ cho họ.
Lê Tịch điền - Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Lê Tịch điền - Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Tết Nguyên Đán là ngày lễ lớn nhất của nhân dân ta trong dịp xuân, và chính thức mở ra mùa lễ hội đầu năm để cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hoà, làm ăn phát đạt, thịnh vượng.

Những lễ đầu năm đó là: lễ Động Thổ, lễ Khai Hạ, lễ Hạ Điền, lễ Thượng Nguyên. Xưa kia, đối với vua chúa còn có lễ Du Xuân, Khai Ấn. Những lễ này thường được cử hành sau Tết Nguyên Đán. Ngoài ra còn có lễ được sửa soạn trước để đón Xuân như lễ Ban Sóc, lễ Phát Thức.

Theo các sách cổ Trung Hoa, nguồn gốc của lễ Động Thổ có từ năm 113 trước Công Nguyên, năm đó là năm Mậu Thìn, vua Hán Vũ Đế thấy triều đình có tục tế Trời mà không có tế Đất, bèn họp quần thần lại bàn việc tổ chức lễ Hậu Thổ tức là tạ ơn Thần Đất hay còn gọi là Xã Tế.

Nghi thức nguyên thuỷ của lễ Động Thổ, người ta đào một cái ao, ở giữa có một nền tròn, trên nền tròn có năm bệ, trên mỗi bệ đều có lễ vật Tam sinh gồm bò, dê, lợn, người chủ tế thì mặc áo quần màu vàng.

Ở Việt Nam, xưa kia lễ này được tổ chức từ triều đình đến dân gian, nhưng về sau chỉ còn tồn tại trong dân chúng, tại triều đình Thần Đất được tế trong dịp lễ Nam Giao. Hàng năm, sau ngày mồng 3 Tết, tại các làng đều có tổ chức lễ Động Thổ. Sau lễ Động Thổ, mọi người mới được động tới đất. Trong ba ngày Tết, nếu không may nhà nào có người chết thì tang gia phải quàn lại trong nhà đợi lễ Động Thổ xong mới được an táng.

Mọi công việc có liên quan đến cày, cuốc, đào, xới cũng chỉ được tiến hành sau lễ Động Thổ, còn những công việc khác như xuất hành... đều phải đợi đến sau lễ Khai Hạ, thường lễ này được tổ chức vào ngày mồng 7 tháng Giêng.

Lễ Khai Hạ hay còn gọi là lễ Hạ là nghi lễ cất bỏ cây nêu được dựng lên từ trong Tết. Theo truyền thuyết dân gian, xưa kia, khi Tết đến bọn ma quỷ thường hay quấy nhiễu dân lành. Đức Phật thấy vậy đã bắt bọn ma quỷ lại, ma quỷ rất sợ Đức Phật nên không dám quấy nhiễu nữa, nhưng chúng lại hỏi ở đâu là đất của

Phật để chúng tránh. Phật đáp, ở đâu có phướn, chuông, khánh là đất của Phật. Ma quỷ lại hỏi: địa giới của Phật đến đâu, và lấy gì để phân biệt? Phật bảo ở đâu có vạch vôi trắng là địa giới của Phật. Từ đó về sau, mọi người đã dựng cây nêu, trên ngọn nêu có treo khánh sành, phướn giấy và trước nhà có rắc vôi bột thành hình cung tên để trừ ma quỷ.

Người Trung Hoa gọi lễ Khai Hạ là "Nhân nhật" – ngày của con người. Theo sách "Phương sóc chiêm thú" thì 8 ngày đầu năm, mỗi ngày thuộc về một giống: ngày mồng một thuộc về giống Gà, mồng hai thuộc giống Chó, mồng ba thuộc giống Lợn, mồng bốn thuộc giống Dê, mồng năm thuộc giống Trâu, mồng sáu giống Ngựa, mồng bảy là ngày của con người, mồng tám là ngày lúa gạo. Do đó, đến ngày mồng bảy, người ta tổ chức lễ để tạ ơn trời đất, cầu mong sức khoẻ và phát đạt.

Trong dịp lễ Khai Hạ, mọi người làm lễ ngoài trời cúng trời đất, đồng thời cũng sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ Công và cúng Thần Tài... Thường thì sau lễ này, những người buôn bán mới bắt đầu đi chợ, mở cửa hàng. Lễ Khai Hạ phổ biến ở thành thị hơn nông thôn.

Gắn với người nông dân ở nông thôn có lễ Tịch Điền và lễ Thần Nông.

Lễ Tịch Điền hay còn gọi là lễ Hạ Điền do vua Thần Nông đặt ra. Thủa ấy cứ mỗi khi Xuân về, nhà Vua lại tự thân cày mấy đường làm gương cho dân chúng và để làm khai lễ Tịch Điền.

Lễ Tịch Điền được cử hành trong một ngày đầu xuân. Nhà Vua ngự trên một cỗ xe, đem theo cày, bừa đi thẳng tới sở Tịch Điền, có văn võ bá quan, quân lính và nhân dân theo hầu. Nhà Vua xuống ruộng cày ba đường, các Công khai Đại phu cày bảy đường, Sĩ cày chín đường và cuối cùng những lão nông sẽ tiếp tục cày tại thửa ruộng đó, đó là thửa ruộng dành riêng lấy hoa màu dùng trong việc cúng lễ. Trong lịch sử Việt Nam có nhắc đến Kim Ngân Điền là ruộng dùng để làm lễ Tịch Điền.

Lễ Thần Nông là lễ tạ ơn Vua Thần Nông, người dạy cho muôn dân làm ruộng. Lễ được cử hành vào ngày lập Xuân hàng năm bởi vậy còn được gọi là lễ Tế Xuân. Để cử hành lễ, người ta nặn tượng một con trâu và tượng Thần Nông. Trước khi nặn tượng phải tra cứu thiên văn xem năm đó có thuận lợi cho mùa màng hay không, nếu thuận lợi thì tượng Thần Nông sẽ được nặn rất đẹp, giày mũ chỉnh tề, còn nếu không thì Thần Nông có vẻ như vội vàng nên chỉ đi giày có một chân. Con trâu cũng được tô màu theo hành của mỗi năm vàng, đen, trắng, xanh, đỏ tương ứng với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Sau khi nặn tượng xong, người ta lập một lễ đài và sắm lễ vật. Nghi lễ được cử hành rất đơn giản, người chủ tế làm lễ tế Thần Nông vừa để tạ ơn, vừa để cầu cho một mùa sản xuất mới được mưa thuận, gió hoà. Sau đó,người ta rước tượng Thần Nông và trâu đi vòng quanh khu lễ đài, có một người đi sau tượng trâu và đánh vào đít nó ba roi, có ý thôi thúc trâu làm việc.

Trong dịp mừng Xuân trong dân gian ta còn có lễ Thượng Nguyên hay cúng rằm tháng Giêng. Lễ Thượng Nguyên là lễ cúng Phật. Người ta tin rằng, ngày rằm tháng Giêng Đức Phật sẽ giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của Phật tử. Do đó, vào ngày này ai ai cũng rủ nhau đi lễ chùa để cầu Phật phù hộ độ trì. Lễ Thượng Nguyên có nguồn gốc từ quan niệm của nhà Phật cho rằng ngày mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng được coi là ngày của Phật. Và Rằm tháng Giêng là Rằm đầu tiên của một năm, đi lễ trong ngày này có thể mang may mắn cho cả năm. Tuy vậy, theo các sách của Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là lễ Phật mà trước đây đó chính là Tết Trạng Nguyên, Tết này do Vua tổ chức để thiết đãi các Trạng Nguyên. Tết Trạng Nguyên còn gọi là Tết Nguyên Tiêu.

Đối với các Vua chúa, quan lại, trong dịp Xuân, người ta tổ chức lễ Khai Ấn. Văn bản đầu tiên được đóng dấu thường là văn bản tốt lành. Ngày trước, các bậc Vua chúa còn sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong ngày lễ Khai Ấn.

Đó là các lễ sau Tết Nguyên Đán. Còn trước Tết, trong dân gian xưa kia còn có các lễ sửa soạn cho năm mới như lễ Ban Sóc và lễ Phát Thức.

Lễ Ban Sóc là lễ nhà Vua phát lịch năm mới cho quần Thần và Hoàng thân. Lịch do Khâm thiên giám soạn có hai thứ lịch: Bảo lịch và Quan lịch.

Lễ Phát Thức tức là lễ chùi kim ấn, kim sách, ngọc ấn, ngọc sách. Lễ này tổ chức trong tháng Chạp vào ngày tốt lành do Khâm thiên Giám chọn.

Tết lễ là sinh hoạt văn hoá đã có từ lâu đời. Ngày nay có nhiều lễ, tục đã bị mất đi do tính không cần thiết hoặc phức tạp phiền hà. Nhưng cũng có những lễ sẽ không bao giờ mất đi. Xu hướng mấy năm gần đây nhân dân ta đang từng bước khôi phục lại những lễ xưa, tục cũ. Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho sự nghiệp giữ gìn và phát huy những vốn văn hóa truyền thống của dân tộc.

 

Theo Hoàng Đặng


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 CHÚNG TÔI TRÊN GOOGLE+

 THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

 TIN TỪ DIỄN ĐÀN

  Cung cấp mẫu bàn thờ gia tiên đẹp hiện đại cho gia đình

  • Bởi: sonle3010
  • 01/03/2017
  • Đã xem: 5
Thờ cúng tổ tiên, thần phật là phong tục tập quán lâu đời, và là nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của dân tộc ta mà không nơi nào có được, thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống quý báu uống...

  Tìm nguồn gốc họ trương bá

  • Bởi: 1234567
  • 29/08/2016
  • Đã xem: 364
Mọi người cho hỏi Nguồn gốc họ Trương bá ở đâu a. Cụ tổ họ trương bá ở đâu a. BS Trương bá Quân Dt 0904051567 DÒNG HỌ TRƯƠNG BÁ (LÀNG THỊNH MỸ, XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) (BS.CKII....

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập37
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm36
  • Hôm nay3,907
  • Tháng hiện tại167,076
  • Tổng lượt truy cập6,361,916
Quảng cáo Google
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây