Trương Vĩnh Ký và thời niên thiếu

Thứ bảy - 03/01/2015 19:25
Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà thâm nho, nhuần đạo và cũng là nhà trí thức quốc tế luôn hoài bảo góp phần mở mang, khai phóng văn hóa dân tộc.
Bức tượng đồng nhà bác học Trương Vĩnh Ký được khánh thành nhân kỷ niệm 173 năm ngày sinh của ông (6/12/1837 - 6/12/2010) tại Bến Tre
Bức tượng đồng nhà bác học Trương Vĩnh Ký được khánh thành nhân kỷ niệm 173 năm ngày sinh của ông (6/12/1837 - 6/12/2010) tại Bến Tre

1. Tổng quan

Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà thâm nho, nhuần đạo và cũng là nhà trí thức quốc tế luôn hoài bảo góp phần mở mang, khai phóng văn hóa dân tộc. Các tư liệu, tác phẩm văn hóa của Ông đã nói lên lòng yêu nước thiết tha, nỗi lo lắng cho một dân tộc chậm tiến đang đứng trước phong trào thực dân thế giới. Ông không mỏi mệt cổ võ cho một nền tân học và quảng bá chữ Quốc Ngữ trên toàn quốc, nhờ đó mang luồng sinh khí canh tân vào đất nuớc để có thể tự tồn. Nhiều nhà nghiên cứu thế giới và trong nước công nhận Trương tiên sinh là một nhà ngôn ngữ quán chúng và một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam vào hạ bán thế kỷ XIX. Ông là người Việt đầu tiên được người ngoại quốc vinh danh là một trong 18 nhà thông thái thế giới của thế kỷ XIX về văn hóa và khoa học.

 

Nhà văn hóa Pháp Littré đã viết: "...Tất cả các nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn ’Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông’ của bạn. Không ai nghĩ công trình này lại do một người An Nam viết bởi tính độc đáo của nó, bởi lần đầu tiên môt người bản xứ như Trương vĩnh Ký lại có cái nhìn về ‘bác ngữ học’ nhằm bày tỏ cho những nhà ngôn ngữ học châu Âu nhiều tư liệu và đánh giá rất khoa học.Cuốn khảo luận này chắc chắn mau chóng nâng bạn lên hàng những nhà ngôn ngữ học thế giới. Và các nhà ngôn ngữ học của Pháp sẽ coi bạn là niềm tin tự hào của chính mình...”. Chúng ta cảm ơn Ông đã mang danh dự lớn lao về cho nước Việt Nam nhỏ bé trong thời kỳ còn kém mở mang. Ông còn là tổ sư của nghề làm báo bằng chữ quốc ngữ của nước, mang các thông tin đến người dân thầm lặng dù còn hạn hẹp lúc ban đầu. Trương tiên sinh quả là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử Việt Nam. Ông nổi bật, khác thường trong cung cách xử thế vào thời buổi nhiểu nhương, xã hội loạn lạc. Mặc dù sống trong bất hạnh của thời thơ ấu, mồ côi cha từ 3 tuổi, mất mẹ lúc 21 tuổi, ông Trương Vĩnh Ký có sức sống mãnh liệt như một cây trúc non cố chen mọc giữa rừng hoang để cất tiếng vi vu qua cơn gió chướng, tạo âm hưởng đa dạng đa màu trên khắp núi sông. Dù thông minh tuyệt đỉnh, Ông cam chịu thu mình làm kiếp tằm trong đêm, nối kết liên hợp Đông và Tây, tụ kén tinh anh thêu hoa dệt gấm văn hóa dân tộc hiếm quí. Trương tiên sinh đã sống với hơn sáu mươi năm cuộc đời lăn lộn, vinh nhục, nhưng tâm hồn luôn khẳng định yêu nước, cho đến lúc buông tay trong hoàn cảnh cơ hàn mà lòng không được bình an. Tại sao thế? Để hiểu rõ hơn về con người và cuộc đời thăng trầm của nhà thông thái Trương Vĩnh Ký, chúng ta lần lượt xét qua các bối cảnh lịch sử và biến cố lớn xảy ra trong nước vào thời niên thiếu của Ông, đã để lại dấu ấn định mệnh ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc hành trình vào đời sau này.

 

2. Bối cảnh lịch sử của Việt Nam vào thời Trương Vĩnh Ký

Ông Trương Vĩnh Ký sinh ngày 6-12-1837, tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ (hiện nay huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) và qui thiên ngày 1-9-1898 ở Chợ Quán, Sài Gòn. Cuộc đời của Ông trải dài qua tất cả 9 đời vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái, với biết bao biến cố trọng đại liên tiếp xảy ra trong nước, như chính sách cấm đạo Gia Tô, ngăn cấm ngoại thương, các vụ nổi loạn, xung đột với nước Xiêm, nhiều cuộc khởi nghĩa của dân chúng, và cuộc xâm lăng vũ lực của Pháp. Ông trưởng thành trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức khó khăn của đất nước, đặc biệt sự va chạm giữa hai nền văn hóa Âu và Á, mặc dù cuộc tiếp xúc của hai phương này đã có khá lâu.

 

Chính sách bài đạo sắt máu Theo sử liệu, người Âu Châu đã đến viếng nước ta cách nay gần 2000 năm hoặc hơn. Vào năm 226 sau Công Nguyên, đã có người từ La Mã đến nước Giao Chỉ trên đường đi đến nước Ngô. Vào thế kỷ thứ VII, có ít người theo đạo Cảnh Giáo (Nestoriens), mà người đầu tiên tên Olopen đã từ xứ Ba Tư đến thành Hoa Lư. Đến thế kỷ XIII, ông Marco Polo, người Ý làm việc cho Mông Cổ có ghé nước ta. Ông này nổi tiếng ở nước Ý Đại Lợi về du nhập mì sợi của Tàu để làm ra spaghetti, thức ăn chính của họ ngày nay. Từ thế kỷ XV-XVII, có nhiều người Tây phương đến thăm viếng nước ta để mở mang thương mãi, truyền giáo và tìm kiếm thuộc địa trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Công cuộc truyền giáo lúc đầu còn lẻ tẻ nên triều đình chưa lưu ý. Vào đời vua Lê Trang Tông (1532-1533), đã có giáo sĩ dòng Franciscain đến Bắc Hà lén giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, huyện Nam Trực, làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy thuộc các tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình. Tiếp theo, giáo sĩ P. Busomi đến Nam Hà vào đời chúa Sãi (1615), Giáo sĩ Jean A. Rhodes đến giảng kinh Phúc Âm ở Phú Xuân,... Họ đã sáng tạo chữ “Quốc Ngữ” vào đầu thế kỷ XVII để có thể tiếp xúc, giao thiệp với người dân và rao giảng đạo. Lúc ban đầu, các chúa Trịnh và Nguyễn có cảm tình với các giáo sĩ, không phải vì đạo pháp hấp dẫn, mà thật ra muốn nhờ họ giúp phát triển kỹ thuật đúc súng, đóng tàu, binh lược và mua khí giới. Cho đến khi các chúa nhận thấy không còn khai thác được các giáo sĩ nữa và e ngại đạo Thiên Chúa bành trướng lan tràn, nên có chính sách “bế quan tỏa cảng” và bài đạo “sát tả“. Trong thời đại phong kiến này, đạo Thiên Chúa quá mới mẻ đối với các vì vua chúa và đình thần, vả lại cung cách hành đạo và lý thuyết của đạo này khác hẳn với Nho đạo vốn có hàng trăm năm và được xem là chính giáo. Năm 1678, Ông Boureau-Deslandes yết kiến Chúa Trịnh ở Bắc Hà và dâng thơ của vua Louis XIV để xin giảng đạo. Năm 1682, giám mục Metellopolis và Lanneau vào Huế xin gặp chúa Hiền. Sau đó, có nhiều ngưới Pháp ghé thăm Việt Nam để xin buôn bán hoặc truyền giáo. Các chiến dịch bài đạo bắt đầu từ năm 1631 dưới thời chúa Thượng ở trong Nam và từ 1754 dưới đời Cảnh Hưng ở Bắc. Tuy nhiên, chiến dịch bài đạo có phần mạnh mẽ, gay gắt hơn ở ngoài Bắc vì vua Lê - chúa Trịnh không nhận được nhiều giúp đỡ của các người Tây Phương. Cho đến triều đại Tây Sơn, các chiến dịch bài giáo không còn nhắc đến khi trong nước đang có nhiều loạn lạc. Vào lúc khởi nghiệp đế vương, vua Gia Long không chủ trương cấm đạo, nhưng ba vị vua kế vị Ngài - Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đã áp dụng cứng rắn chính sách cấm giao thương với Âu Mỹ và ra lệnh bài đạo Gia Tô càng ngày càng sắt máu hơn, gây tang tóc lầm than nhiều nơi để cuối cùng đất nước bị xâm chiếm. Năm 1825, chiếc tàu Théthis vào Đà Nẵng và để giáo sĩ Rogerot ở lại đi giảng đạo khắp nơi. Nhân dịp này, vua Minh Mạng ra dụ cấm đạo và truyền cho các quan phải khám xét kỹ lưỡng các ghe tàu ghé vào cửa biển. Dụ nói rằng: “Đạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo". Năm 1855, vào thời vua Tự Đức một đạo vụ khác khắc khe hơn là trọng thưởng những ai tố cáo giáo dân còn hành đạo và bắt được giáo sĩ. Do đó, nhiều nhóm giáo dân và giáo sĩ hành đạo lén lút ở dưới hầm hố, trong rừng, trên núi, nơi hoang dã. Những cuộc càn quét bắt bớ của quân triều đình càng ngày càng tăng, các tu viện và nhà thờ bị san bằng, đốt cháy và những người theo đạo bị truy sát không ngừng, ngay cả ở Cái Mơn. Trong khoảng thời gian 1848-1858, chủng sinh Trương Vĩnh Ký đang theo học đạo ở chủng viện Pinhalu trong 4 năm và sau đó đi qua học ở chủng viện Giáo Hoàng trên đảo Penang thuộc nước Mã Lai trong 6 năm. Vào tháng 7 năm 1858, Trung Tướng Pháp Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và Tây Ban Nha vào Đà Nẵng đánh phá, chiếm thành An Hải và Tôn Hải. Trong năm này Trương Vĩnh Ký, 21 tuổi, vừa trở về Việt Nam để thọ tang mẹ.

 

Pháp chiếm thành Gia Định (tháng giêng 1859), Định Tường và Biên Hòa (1961). Triều đình Huế ký Hiệp Ước 1862 nhường 3 tỉnh miền Đông. Tháng 6-1862, vua Tự Đức gởi phái đoàn gồm Phan Thanh Giản, Chánh Sứ; Phạm Phú Thứ, Phó Sứ và Nguyễn Khắc Đản, Bồi Sứ (quan án sát sứ tỉnh Quảng Nam) đem cống phẩm sang Pháp và Tây Ban Nha để chuộc lại 3 tỉnh này. Ông Trương Vĩnh Ký được mời tham dự phái đoàn với tư cách thông ngôn. Chuyến đi này của phái đoàn Phan Thanh Giản bị hoàn toàn thất bại vì Hoàng Đế Napoléon III và Chính phủ Pháp chẳng hứa hẹn gì. Trái lại, chuyến công du này đã giúp cho Trương tiên sinh có cơ hội tiếp cận với nền văn minh hiện đại của Châu Âu và hạnh ngộ với nhiều gương mặt sáng giá nổi bật như nhà văn hào Victor Hugo, sử gia danh tiếng Ernest Renan, văn hào Émile Littré, sử gia Victor Duruy, đặc biệt với Bác Sĩ và Viện Sĩ Paul Bert ở Pháp; Nữ Hoàng Isabelle ở Tây Ban Nha và Đức Giáo Hoàng Pio Nono IX (1846-1876) ở Rome. Chuyến xuất ngoại này là một thành công lớn của Trương Vĩnh Ký, đã mở một bước ngoặc mới cho việc hành xử, sự nghiệp và cuộc đời còn lại của mình. Ông có được tầm nhìn mới về cuộc đời và hướng phục vụ đất nước của mình trong lúc phong trào thực dân thế giới đang lên. Tóm lại, hơn một ngàn năm lệ thuộc Tàu đã làm cho tâm hồn và con người Việt Nam tiêm nhiễm nho học rất sâu sắc. Từ nếp sống, suy nghĩ đều bị ràng buộc với tam cương ngũ thường. Ngoài những điều hay của thuần phong mỹ tục Đông Phương, nền nho giáo của Tàu đã tạo cho nước Việt Nam một xã hội phong kiến, có tinh thần ỷ lại, xem Tàu là nước có nền văn minh vĩ đại duy nhất của thế giới. Do đó, triều đình Nguyễn có tinh thần tự kiêu tự mãn, không chịu học hỏi thêm từ bên ngoài, không am tường tình hình thế giới và không biết đến trào lưu tư tưởng tiến bộ bấy giờ. Triều đình đã nhiều lần cầu viện Tàu để chống Pháp, nhưng không biết rằng nước này cũng đang bị các nước Nhật, Âu, Mỹ uy hiếp, lấn áp. Vì tầm nhìn thiển cận và quyền lợi của lớp người cai trị, họ kiên trì thi hành các chính sách bế quan tỏa cảng lỗi thời và bài đạo mù quáng. Trong khi đó, dân chúng khổ sở vô vàn, loạn lạc khắp nơi, đất nước yếu kém, tụt hậu và cuối cùng bị thực dân xâm chiếm và đô hộ gần trăm năm. Khoảng đời của Trương tiên sinh đã trải qua bối cảnh đất nước và xã hội hết sức đen tối như thế.

 

3. Thời kỳ ấu thơ của Trương Vĩnh Ký ở Cái Mơn

Ông Trương Vĩnh Ký từ lúc lọt lòng mẹ ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thạnh (6-12-1837) cho đến lúc qui thiên Ở Chợ Quán, Sài Gòn (1-9-1898) đã trải qua bao cơn sóng gió của bản thân, gia đình, tôn giáo và đất nước. Cha của Ông là cụ Trương Chánh Thi, quê quán ở Bình Định theo cha vào Nam lập nghiệp ở Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ông là một nhà nho học, thích thi phú, nhưng được bổ nhậm làm lãnh binh dưới triều Minh Mạng. Ông Lãnh binh Trương kết hôn với bà Nguyễn Thị Châu, con của một gia đình theo đạo Thiên Chúa lâu năm ở Cái Mơn. Ông là con chiên của Chúa được Triều đình Nguyễn (Minh Mạng và Thiệu Trị) chấp nhận làm quan, nhưng đi trấn thủ ở Nam Vang. Ông thường bị bệnh sốt rét và cuối cùng chết vì bệnh này, để xác ở xứ người vào lúc Ông Trương Vĩnh Ký vừa được 3 tuổi. Vợ của Ông là Bà Nguyễn Thị Châu, một người vợ hiền, lam lũ, sống cô đơn nuôi con để trông đợi chồng về. Bà đã sanh 3 nguời con, gồm một gái và hai trai. Con gái đầu lòng sau khi sanh thì chết. Cả hai người con trai đều thông minh, nhưng Ông Trương Vĩnh Ký có phần trội hơn ngay từ thuở nhỏ. Theo nhận xét của thầy giáo Học, người đỡ đầu và ân nhân lớn của gia đình bà Châu sau khi chồng mất, Cậu Ký là một đứa bé có bẩm chất thông minh, trí nhớ vượt hẳn người thường. Trong hoàn cảnh góa bụa, sau khi cha ruột bị giết vì đạo, nhà cửa bị đốt cháy thành tro bụi, Bà Châu và hai con sống rất nghèo túng, với sự trợ giúp của người đồng hương, nhứt là thầy giáo Học, người bạn thâm giao của chồng bà. Khi có những chiến dịch bài đạo càn quét ở Cái Mơn, bà phải dẫn hai con đi lánh nạn (Hoàng Lại Giang, 2001). Lúc bấy giờ Cái Mơn là một cái nôi của đạo Gia Tô của tỉnh Vĩnh Long. Ông Trương Vĩnh Ký lúc mới sinh ra rất ốm yếu, khó nuôi. Theo chuyện kể trong gia đình, có lúc ông bị bệnh khóc nhiều ngày đêm liên tiếp, không ăn uống được gì nhiều, nên gia đình đã lo chuẩn bị hậu sự cho Ông. Nhưng may thay như có kỳ tích, Ông hết khóc, bắt đầu bình phục và sống tươi tỉnh, mạnh khoẻ trở lại. Ông Ký là đứa bé thông minh, ốm cao, có vầng trán rộng, đôi mắt to tròn. Ông có trí nhớ một cách bất thường đến nỗi làm cho thầy giáo và những người chung quanh ngạc nhiên. Ngay từ lúc nhỏ, đầu óc của Ông như một máy chụp ảnh, chỉ đọc qua một số trang sách, ông nhớ không thiếu sót một chi tiết nào. Đó là đặc tính của những đứa trẻ thông minh, sáng dạ. Khi được 3 tuổi, Ông đã thuộc làu Tam tự Kinh, một quyển sách vỡ lòng của nho học. Lúc 4 tuổi Ông học viết và lúc 5 tuổi cặp sách đến trường để học với giáo Học. Sau vài ba năm, Ông học thông suốt Minh Tâm Bữu Giám, đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh, thuộc nhiều bài thơ đời Đường, đời Tống... Nhờ sáng dạ, Ông tự học nhiều hơn học ở nhà trường. Sau đó ít lâu việc học của Ông tiến bộ nhanh, vượt cả anh ruột tên Trương Chánh Sử và các đàn anh khác, đến nỗi thầy giáo Học cho Ông là một hiện tượng đặc biệt. Ngoài ra, theo lời của những người thân hậu bối, lúc nhỏ Ông còn thuộc nhớ nhiều bài ca dao dài mà người lớn không biết. Khác biệt hơn các đứa trẻ trong xóm, ngoài giờ đến trường để học, Ông Ký thích đọc sách ở nhà do cha Ông mang từ miền Trung vào lúc xưa và gởi cho thầy Học giữ, chẳng hạn, sách Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Đạo Gia Huấn, thơ Đường, Lý Bạch, Đổ Phủ, Thơ Tống... Do đó, khi nói chuyện với Mẹ, thầy Học và những người lớn khác, Ông tỏ vẻ như người lớn, thường dẫn lời nói của thánh hiền, gây ngạc nhiên cho mọi người. Thầy giáo Học và nhiều người trong thôn gọi ông là “thần đồng“. Ngoài Thầy Học, gia đình Ông Ký còn có người bạn tốt bụng khác là Cố Tám. Sau khi ông Trương Chánh Thi chết, Cố Tám ngoài lén lút đi giảng đạo trong xã, thỉnh thoảng ghé thăm viếng, giúp đỡ gia đình bà Châu. Ông chỉ dạy thêm cho cậu Ký học chữ La Tinh để đọc Thánh Kinh mà Ký hiếu kỳ muốn biết, dạy chữ Nôm và ít chữ sau này gọi chữ "Quốc Ngữ". Ông nhận thấy cậu Ký còn nhỏ mà có đầu óc thông minh hơn người, chỉ biết thú đọc sách hơn đi chơi đùa, có chí cầu tiến, nên Ông cố thuyết phục bà Châu cho con theo Ông để có thể tiếp tục đường học vấn xa hơn, dĩ nhiên để phục vụ cho đạo sau này. Bà Châu hết sức ngạc nhiên và trong lòng lo âu rất nhiều. Lòng Bà đang đau như đứt ruột khi cho đứa con lớn của mình - cậu Sử - lên tỉnh học rồi, nay làm sao để mất đi đứa con út. Làm sao Bà có thể chịu đựng nỗi cô đơn, một bóng một hình ở trong căn nhà hẽo lánh như vậy! Cha mẹ nào cũng thương con nghìn trùng và sống hy sinh vì con mình. Dù lòng đau xót tột độ khi phải xa lìa con, nhưng khi Bà Châu nghĩ về tương lai sáng lạn của con sau này, nên cuối cùng đồng ý cho cậu Ký theo Cố Tám đi học. Lúc đó Ký vừa tròn 9 tuổi. Cố Tám giờ đã già yếu, không biết về trời đất lúc nào, nên sau đó nhờ Thừa Hòa, người Pháp tên Borelle ở tu viện Cái Nhum nhận nuôi cậu Ký ăn học. Rồi ông này phải đi xa nên nhờ Cố Long, ngưới Pháp tên là Bouilleaux, chăm sóc lo hộ việc nuôi dưỡng và học hành của cậu Ký. Chính sách bài đạo của vua Thiệu Trị lúc đầu còn cởi mở, nhưng càng về sau gay gắt hơn như thời vua Minh Mạng. Đến đời vua Tự Đức, với chỉ dụ sát tả ngày 14-8-1948 (Cậu Ký mới 11 tuổi), cảnh bắt bớ, giết người đạo lại tái diễn khốc liệt hơn. Hàng trăm dân đạo bị bắt và bị sát hại trong các chiến dịch tàn bạo. Dân họ đạo ở Cái Mơn và Cái Nhum không tránh khỏi tai kiếp mới này, dù hai nơi này đã từng bị hai lần đốt cháy tan hoang. Rồi vào một buổi sáng sớm, lính triều đình bao vây Cái Nhum. Lữa cháy cả vùng, tiếng la hét, khóc than khắp nơi. Cố Long phải gian nan và nguy hiểm đưa Ký chạy trốn và tìm đường vượt qua Cao Miên. Cuối cùng Cố Long đã đem được cậu Ký và 9 chủng sinh từ các chủng viện khác đến chủng viện Pinhalu bình an để học tập về thần học và triết học.

 

4. Thời niên thiếu ở hải ngoại

Chủng viện Pinhalu mới được xây cất ở giữa một rừng thốt nốt hoang vu gần sông Mekong và cách Nam Vang độ 6 dặm. Đây là một chủng viện dành cho cả vùng Đông Nam Á và Trung Hoa. Lớp học có tất cả 25 chủng sinh có tuổi từ 13 đến 15 và Cậu Ký là người nhỏ nhứt, mới 11 tuổi. Tất cả những chủng sinh đều được tuyển chọn ở hạng nhứt hoặc nhì của các chủng viện trong vùng. Trong những buổi học, do nhiều chủng sinh còn biết quá ít các danh từ La Tinh và theo yêu cầu của thầy giáo, Cậu Ký mạnh dạn đứng ra thông dịch các bài giảng bằng tiếng này sang tiếng Nhựt, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Việt...làm cho các bạn đồng lớp thán phục không ít. Một năm sau, Ông lại nói được tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Ấn Độ,... Ông biết được nhiều ngoại ngữ do học hỏi từ bạn bè, sách tự điển, nhứt là nhờ năng khiếu ngữ học của mình. Ông tự tìm ra qui luật ngữ pháp để học các tiếng nước ngoài nhanh và dễ dàng. Văn Hào Pháp Littré đã viết rằng "...Trên trái đất này rất khó tìm ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Ký. Gặp người Anh, Trương Vĩnh Ký nói bằng tiếng Anh nhuần nhị như người Luân Đôn. Tiếp xúc với người Ý Đại Lợi, người Y Pha Nho, người Bồ Đào Nha... hay người Nhựt Bổn, Mã Lai, Xiêm...,Trương Vĩnh Ký đều nói đúng theo âm luật của kinh đô nước đó... Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học vào bực nhứt của thời nay...". Vào ngày mãn khóa học ở chủng viện Pinhalu, Ông Trương Vĩnh Ký được chọn là một chủng sinh xuất sắc, đỗ đầu lớp và được tuyển lựa cùng hai người nữa để tiếp tục đi học ở chủng viện Giáo Hoàng thuộc đảo Penang, Mã Lai. Ông dự tính trở về quê hương để gặp lại mẹ và anh Sử cũng như xóm làng, nhưng Cha Long khuyên Ký nên tiếp tục đi học, vì về nước lúc này rất nguy hiểm do chính sách bài đạo cực đoan của vua Minh Mạng+1) Lúc 15 tuổi, Ông đến Penang, một đảo nhỏ, lúc xưa rất nghèo nàn và dân cư thưa thớt. Người Anh thấy tiềm năng lớn của đảo này nên mua để phát triển thành một thương cảng sầm uất, có tính cách hiện đại của người Âu Châu. Khi đặt chân đến nơi, cậu Ký rất ngạc nhiên khi thấy một vùng đảo ở vùng Đông Nam Á mà có nếp sinh hoạt cơ giới ồn ào, một sự phát triển lạ thường mà Ông chưa từng thấy ở nước mình và Cao Miên. Sau đó, Ông gặp và quen biết thừa sai Lefèbvre, một vị giáo sĩ trước kia từng bị lãnh án tử hình năm 1845, nhưng nhờ can thiệp của Đô Đốc Cécile nên được vua Thiệu Trị thả ra. Sau đó Cha trở về Pháp, rồi đi La Mã, đến Ma Cau và cuối cùng ở lại Penang. Vị giáo sĩ nầy rất mến yêu cậu Ký vì thấy Ký là một chủng sinh giỏi, cực kỳ thông minh và là người đến từ Việt Nam, nơi mà ông đến truyền đạo và có nhiều kỷ niệm khó quên. Trong thời gian ở chủng viện Penang, tài năng, đầu óc và trí tuệ thông minh của cậu Ký phát huy tột độ. Ông học một hiểu mười nhờ trí nhớ lâu dài, sách vở ở thư viện và giảng dạy của nhà trường. Thú vui duy nhứt của ông và cũng để vơi bớt nỗi nhớ quê hương, mẹ và anh Sử, Ông Trương Vĩnh Ký thường đến thư viện ngoài giờ ở lớp học. Ông đọc rất nhiều sách Hán, Pháp, Anh, Hy Lạp, Tây Ban Nha... Ông tiếp nhận được rất nhiều tư tưởng, kiến thức của người xưa cả Đông và Tây nhờ trí thông minh, khả năng ngôn ngữ và trí nhớ đặc biệt của mình. Từ nhỏ, Ông Trương Vĩnh Ký mê say đọc sách. Bất kỳ loại sách gì, nếu thấy hữu ích, mới lạ Ông đều đọc qua. Bây giờ có dịp may mắn tu học ở chủng viện quốc tế này, Ông lại có cơ hội tốt để gần gũi với sách báo và tài liệu của chủng viện. Đặc biệt ở đây Ông mê say đọc 3 quyển sách mà Cố Long nhận được từ La Mã và trao tặng Ông; đó là cuốn sách "Từ điển Việt-Bồ-La", "Văn phạm Việt ngữ" và "Phép giảng tám ngày" của Alexandre de Rhodes (Hoàng Lại Giang, 2001). Đây là công trình văn hóa to lớn được Ông Rhodes tổng hợp và biên soạn lại từ các công trình sơ khởi của các giáo sĩ đi trước như: giáo sĩ Francesco de Pina, giáo sĩ Gaspar d'Amaral, giáo sĩ Antonio Barbosa, người Bồ Đào Nha,... Đây là một loại ngôn ngữ được sáng tác theo lối phát âm, giúp cho người học dễ dàng, dễ hiểu hơn so với loại chữ Hán tượng hình. Khi đọc chữ Hán, người không học mà lắng nghe không hiểu biết gì cả, làm sao tạo được lối truyền thông hữu hiệu giữa cấp thống trị và người dân hèn. Trái lại, khi đọc âm của chữ Quốc Ngữ người nghe thông hiểu ngay. Sau hai trăm năm tiến hóa, loại chữ này đã được cải tiến và hình thành một loại ngôn ngữ có thể truyền bá đến quần chúng sử dụng. Nhưng ai là người dẫn đầu việc truyền bá này? Như Ông Rhodes đã viết lời tựa của quyển sách Từ điển Việt-La-Bồ: "...Với giáo sĩ cuốn sách này sẽ trở thành cẩm nang, nhưng với trí thức người Việt thì cuốn từ điển này hãy còn mới mẻ... Sự thay đổi một thói quen, dù rất nhỏ, như nếp sinh hoạt gia đình, hay một tục lệ lạc hậu cũng là điều không dễ dàng..., huống chi là sự thay đổi cả một hệ thống chữ viết của một dân tộc vốn đã coi chữ Hán là "Quốc gia văn tự" từ gần 2000 năm về trước! Tôi thật không dám chắc sự thành bại của mình. Tôi không dám đoán trước bao nhiêu năm nữa sẽ có người hiểu tôi...". Cậu Ký bắt đầu suy nghĩ về tương lai và vai trò của loại Việt ngữ này với tầm ảnh hưởng đến tiềm năng khai hóa dân tộc và có thể là một hình thức thoát ly lệ thuộc sâu đậm hàng ngàn năm vào nền văn hóa cổ xưa của một nước đầy tham vọng. Ông Trương Vĩnh Ký đã ghi trong cuốn sổ bình sanh của mình: "...Ba công trình tiếng Việt do giáo sĩ A. de Rhodes lừng lững như ba ngọn núi, người nào leo lên được ba „hòn núi“ ấy chắc sẽ nhìn thấy toàn cầu...Chính thứ chữ viết ghi theo từng âm này của A. de Rhodes chuẩn mực hóa biểu hiện hệ thống ngữ âm theo hướng siêu phương ngữ. Cùng với sự tiện lợi là sự tiến bộ của thứ chữ này trong việc hòa nhập với nhiều quốc gia tân tiến... Tôi không bao giờ hẹp hòi coi đây là công cụ của nhà truyền giáo. Với tôi, đây là gia sản quý báu của dân tộc. Tôi sẽ giữ gìn, nâng niu nó, tôi sẽ làm hết mình để quảng bá nó..." (Hoàng Lại Giang, 2001).

 -----------------------------------------------------

+1) có tài liệu cho biết Ông đã về thăm nhà

Lịch sử đã đi qua một lần với áp dụng chữ Nôm do Ông Hàn Thuyên vào đời Trần sáng lập cũng do từ ý thức tinh thần quốc gia, độc lập của dân tộc; nhưng chữ Hán vẫn còn tồn tại và chiếm một vai trò quan trọng cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Hàn Quốc và Nhựt Bổn đã thành công thoát ly Hán ngữ với loại chữ „Nôm“ do mình sáng tạo. Từ đó cho thấy Việt Nam lúc bấy giờ đã tự mãn và ỷ lại hoàn toàn vào một nền văn minh cho là siêu việt trên thế giới. Trong một dịp viếng thăm chủng viện, viên Toàn Quyền Penang yêu cầu chủng viện tổ chức một cuộc thi bằng tiếng La Tinh, với giải thưởng 100 bảng Anh, về đề tài (i) Phép nhiệm mầu và lịch sử Đức Chúa Trời, (ii) Nghị luận về văn chương và thể văn từ phú, và (iii) Phát minh Pharaday và công dụng...Ông Trương Vĩnh Ký đã thắng được giải nhứt và nhận giải thưởng 100 bảng Anh trong một buổi lễ được tổ chức rất trang trọng ở Penang. Trương Vĩnh Ký, bấy giờ đã 21 tuổi, là chủng sinh đỗ đầu của khóa học với 300 học viên khắp Á Đông và được tuyển chọn cùng với hai người khác để đi La Mã tiếp tục học làm Linh Mục. Giáo sĩ Lefèbvre lại cố thuyết phục Ông nên tiếp tục đi học ở La Mã vì thời cuộc ở Việt Nam còn quá nhiều ngổn ngang, trắc trở; nếu Ông về nước vào lúc này sẽ không làm được việc gì thiết thực, trái lại sinh mạng có thể bị nguy hiểm. Nhưng Trương tiên sinh đã quyết định hồi hương để phục vụ đất nước và chịu tang mẹ hiền đã mất trước đó, mặc dù Ông nhận thấy đi La mã là con đường vinh quang cho tương lai. Trước khi về nước, Ông đã thu thập được rất nhiều sách quý báu do nhà trường, viên Toàn Quyền Penang, bạn bè thân tặng. Ông lại mua thêm các sách khác ở các tiệm sách. Theo tài liệu gia đình, trong chuyến về Việt Nam lần này, ông mang theo đến 11 thùng sách, gồm đủ loại từ triết học đến sử ký, địa lý, khoa học, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo... Có lúc Ông lo ngại không biết có thể đem hết số sách này về Việt Nam được không, vì tình trạng chiến tranh bắt đầu và các cuộc càn quét bắt bớ, giết chóc những người giảng đạo và theo Chúa càng lúc càng quyết liệt hơn.

 

5. Trương Vĩnh Ký hồi hương

Theo tài liệu của ông Nguyễn Văn Trấn (1993) và Hoàng Lại Giang (2001), năm 1858, Ông Trương Vĩnh Ký hồi hương bằng chuyến tàu Hồng Mao (Anh) đến cảng Hạ Châu, Trung Quốc. Cùng trên chuyến tàu này có thêm hai người Việt Nam, đó là Ông Phan Thanh Long, người Gia Định và Lê Huy Tốn người Ninh Bình. Cả hai đều lớn hơn Trương Vĩnh Ký 4 tuổi. Từ cảng Hạ Châu, chiếc tàu thương mãi tiếp tục hành trình, hướng về phương nam để đến Việt Nam. Khi tàu vừa cặp Bến Nghé (sông Sài Gòn ngày nay), cả ba người đều im lặng lo lắng, mỗi người một suy tư. Cảng Bến Nghé im vắng không giống như Penang, dường như đang phủ một bầu không khí nặng nề. Vài chiếc đò qua lại dưới sông, trên phố người qua thưa thớt; nhưng nhiều lính tráng mang súng, gươm đi tới đi lui. Lúc này là thời kỳ cấm đạo còn gay gắt ở mọi nơi. Ba người khách từ Mã Lai về cảm thấy không được yên tâm và lo sợ. Cho nên, Trương Vĩnh Ký yêu cầu ông thuyền trưởng tàu Hồng Mao đưa họ trở ra bãi biển Cần Giờ. Đến bờ biển, họ may mắn gặp một chiếc thuyền con mà chủ nhân là một người ngoan đạo đưa họ đi ẩn núp ở khu rừng đước gần đó. Họ gọi Ông là "Chú Ba Cần Giờ", nhà ở Chợ Quán, Sài Gòn nhưng bị đốt sạch vì theo đạo Chúa. Vợ con Ông Ba còn tá túc ở đó trong khi Ông bỏ đi ra Cần Giờ lập một chòi nhỏ thờ Chúa ở giữa rừng. Ông Ba đưa họ và hành lý cùng 11 thùng sách của Ký đến căn chòi lá để tạm trú và tìm cách giúp họ trở về quê nhà (Hoàng Lại Giang, 2001). Bấy giờ Ông Ký có cảm giác như ngày nào Cố Long đã đưa Ông chạy trốn khi lính triều đình bao vây Cái Nhum... Ông thực sự lo lắng cho số phần và tương lai của mình trong những ngày sắp tới. Tất cả đời sống bình yên ở Penang không còn nữa. Trước mặt chỉ là những ngày đen tối, Ông cần phải bình tỉnh, sáng suốt và nhiều can đảm để đối diện với thực tế xã hội Việt nam dưới thời Tự Đức. Là một người có đạo, Ông phó thác mạng sống của mình cho Chúa Trời phù hộ. Ba người đồng hành đang suy nghĩ tìm cách nào để về quê hương an toàn. Sau đó, có tin rất buồn về ông Phan Thanh Long, vào một đêm, cố lẻn đi về Gia Định để tìm nhà mình, nhưng anh bị giết chết và không bao giờ trở lại để thực hiện được lời hứa nếu tìm được nhà sẽ đưa hai người bạn của mình về tạm trú. Thân phận con chiên quá mong manh! Sau đó ít ngày, Lê Huy Tốn đi ngõ biển để về Ninh Bình, nhưng không biết cuộc hành trình của Ông có được bình yên. Theo tài liệu gia đình, Ông Ký được Ông Ba nhờ một người ngoại đạo đưa từ Cần Giờ qua ngã Cần Giuộc để về Long Xuyên trong khi phải giã làm người bệnh để qua mắt các điếm canh. Từ Long Xuyên Ông đi qua Sa Đéc để gặp Ông trùm Chữ, một người có đạo dòng giúp đỡ về Cái Mơn. Chuyến đi từ Cần Giờ về Cái Mơn cũng lắm gay go, có lúc Ông suýt bị bắt, nhưng nhờ may mắn thoát hiểm. Cuối cùng Ông Trương Vĩnh Ký đã về tới quê mình và gặp lại người anh Nguyễn Chánh Sử trong bao niềm vui vui tủi tủi... Ông Sử giờ là một viên quan huyện của tỉnh Vĩnh Long. Sau đó, Ông Ký đến thăm thầy đồ Học, một ân nhân của gia đình Ông, năm nay gần 60 tuổi, già yếu hơn và còn sống với nếp sống thanh đạm, nghèo nàn. Thầy trò gặp lại nhau biết bao mừng vui, tâm tình kể bao giờ hết. Một hôm Thừa Hòa ghé thăm. Hai người hết sức mừng rỡ. Thừa Hòa là thầy dạy Ông Ký về tiếng La Tinh và tiếng Pháp. Họ đàm đạo rất lâu về nhiều vấn đề, trong đó có việc tái lập „nhà thờ“ ở Cái Mơn và „tu viện“ ở Cái Nhum không chính thức, vì các tu viện và nhà thờ của hai nơi này đã bị ba lần thiêu hủy. Ông Ký đã tu sửa lại ngôi nhà và mảnh vườn của mình gần con rạch nhỏ có vẻ khang trang tươi tắn hơn, đồng thời Ông đi dạy không chánh thức lớp tiếng Pháp và tiếng La Tinh do Thừa Hòa tổ chức ở Cái Nhum. Trong thời gian này, ngoài giờ dạy học Ông bắt đầu viết lách, trước tiên Ông thu thập và viết lại các chuyện cổ tích và soạn xong giáo trình "Ngữ pháp Việt Nam yếu lược". Nhìn về tương lai, Thừa Hòa lại khuyên Trương Vĩnh Ký đi La Mã tiếp tục học làm Linh Mục, nhưng ông quả quyết ở lại làm một chút gì cho quê hương đất nước. Ông bảo rằng Ông sinh ra ở đất nước này và sẽ bỏ xác thân ở nơi này. Trong những buổi dạy học không chánh thức ở tu viện, Ông dùng những phương án sư phạm riêng để giảng dạy làm sao cho học trò thu nhận nhiều hiệu quả. Trong các buổi học luôn xảy ra trong bầu không khí cảnh giác cao độ, không giống như những lớp học truyền thống. Hàng ngày cả Thầy và học trò vừa giảng và học cũng vừa để tai lắng nghe có gì bất thường ở ngoài đường. Hể có tiếng động ám hiệu là vội vàng thu xếp giấy mực... chạy trốn. Tín ngưỡng thiêng liêng quá! Thù nghịch không thể ngăn cấm lòng tin của con người. Nhưng đến đêm 9-12-1858, "tu viện" Cái Nhum và "nhà thờ" ở Cái Mơn dù bằng vách lá lại bị đốt cháy tiêu tan. Ông Trương Vĩnh Ký hoảng hốt, cố chạy trốn khỏi Cái Mơn để được an toàn và cuối cùng đến tạm ở nhà ông Quản Phụng, thuộc hạ trước kia của Ông Trương Chánh Thi ở ven sông Hàm Luông. Nhưng rồi Ông cảm thấy nếu ở lại đây lâu có thể làm ảnh hưởng, liên lụy đến gia đình người bạn của cha mình. Dù Ông Quản cố giữ Trương Vĩnh Ký ở lại nơi này, Ông quyết định dấn thân vượt sông Tiền Giang hướng về Sài Gòn và phó mặc số mạng của mình cho Chúa. Theo tài liệu gia đình, Ông lại được một ông cụ ân nhân đưa đến Cần Giờ và tìm gặp căn chòi lá mà Ông đã dừng chân lúc trước, nhưng ông Ba Cần Giờ đã không còn nữa vì ông bị giết về đạo. Con của Ông là cậu Lo vâng lời cha mình ở đây giữ sách và chờ gặp Ông Ký. Sau đó, Lo dẫn Ông đi gặp ông Chín Ngơi, một người đạo gốc, biết rất rành rẽ về khu Chợ Quán. Vùng này có nhiều sông rạch chằng chịt, người thưa thớt; nhưng là nơi có nhiều người theo đạo Gia Tô. Nhiều nhà thờ bằng vách lá không chính thức được dựng lên, nhưng bị quân triều đình càn quét dữ dội nhiều lần. Tính từ thời vua Minh Mạng đến lúc bấy giờ, Chợ Quán đã bị đốt nhà 6 lần. Chín Ngơi dẫn ông Ký đến một căn nhà lá lụp xụp ở Chợ Quán, ở đây Ông Ký gặp lại giáo sĩ Lefèbvre một cách bất ngờ sau nhiều ngày tháng giã từ đảo Penang (Hoàng Lại Giang, 2001). Đây là khúc quanh lớn, làm thay đổi cả cuộc đời của Ông Trương Vĩnh Ký, đặt ông vào một vị thế tấn thối lưỡng nan giữa thế lực xâm lăng và lòng yêu nước của một người có đạo Chúa. Cha Lefèbvre một lần nữa đặt vấn đề đi La Mã với Ký, nhưng Ông lại một mực từ chối để ở lại quê hương. Ký lại trở về tạm trú ở chòi lá Cần Giờ và có Lo tình nguyện ở lại giúp đở Ký cho đến sau này. Ký dạy cho Lo học chữ "Quốc Ngữ", chỉ trong một tháng Lo biết đánh vần và đọc được chữ. Hiện nay, gia đình hậu bối của ông Lo vẫn còn trú ngụ trong khuôn viên bên cạnh ngôi nhà làm việc của ông Trương Vĩnh Ký ở góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng, Sài Gòn. Vào năm 1859, Chín Ngơi lại bơi xuồng đến gặp Ký cho biết nơi này không còn được yên ổn nữa vì đã nghe súng nổ ở miệt Vũng Tàu. Ông ta đưa Trương Vĩnh Ký vào đất liền, theo ý muốn của cha Lefèbvre. Ông Ký trú ở một gian nhà lá nằm trên bờ kênh Lớn (nay là đường Nguyễn Huệ) của một giáo dân đã bỏ nhà chạy trốn. Ông Ký xem Lo như em ruột của mình nên Lo cũng bỏ căn chòi lá để theo Ông. Sách vở được Ông Ký cất trong hầm dưới đất để khi bị đốt nhà sách còn có thể giữ được an toàn. Ký lại bắt đầu những công trình văn học mà Ông đã dự tính trong những ngày qua. Vào đêm 15 rạng 16 tháng 2-1859, Pháp tấn công thành Gia Định. Súng đạn nổ vang trời. Thiếu niên Ký lo sợ không biết phải chạy về đâu. Cha Lefèbvre tới nhà Ký cho biết "Chúa đã sai người Phangsa tới đây giải thoát con chiên của Chúa...". Ông Ký im lặng, cho rằng dân tộc mình, đặc biệt người theo đạo Gia Tô sẽ bớt cảnh lo sợ trốn lánh từng ngày; trong khi đó đa số lương dân sẽ bắt đầu những ngày tháng lầm than vì chiến tranh. Có lần trong cơn tuyệt vọng về chính sách bài đạo nghiệt ngã của Triều Đình, chính Ông đã viết: "...Vì lúc này, chúng tôi đang như những con cừu sống giữa đàn sói đói ăn, bị những sự tủi nhục liên tiếp, bị những sự khủng bố tràn ngập trong gia đình, và luỡi gươm như treo chờ sẵn trên cánh cửa. Giữa những sự sợ hãi triền miên đó, giữa những sự nguy hiểm không ngừng đó chỉ còn hy vọng sự giúp đỡ của Ngài mới nâng đỡ được tinh thần của chúng tôi..." (Hoàng Lại Giang, 2001). Nhưng nay Pháp nổ súng san bằng thành Gia Định, gây máu chảy khắp nơi, dân chúng kêu than oán trách, Ông lại thấy lương tâm cắn rứt và cảm thấy mình có tội. Từ đó cuộc đời của Ông luôn sống trong tâm tư dằng dặc giữa đạo và đời. Một Trương Vĩnh Ký với truyền thống thâm nho, trọng đạo nghĩa, có tinh thần ái quốc và một Trương Vĩnh Ký đã được giáo dục và thấm nhuần một đạo giáo mới - Gia Tô do người xâm lược mang tới. Tướng de Genouilly sau khi lấy được thành Gia Định phải trở ra ngay Đà Nẵng. Ông giao thành Gia Định cho Trung tá Jauréguiberry, một người theo đạo Tin Lành. Cố Croc, qua Linh mục Lefèbvre, mời ông Trương Vĩnh Ký làm thông dịch viên cho cuộc đàm luận giữa Pháp và đại diện triều đình Huế, Thượng thư Bộ Hộ Tôn Thất Hiệp, ở Biên Hòa. Ông Ký biết đây là một thời điểm rất nhạy cảm của dân tộc An Nam. Ông luôn tự hỏi có nên giúp Cố Croc về việc này không. Việc làm thông dịch viên có giúp được gì cho sự hiểu biết thông cảm giữa triều đình Huế và Pháp hay bị mang tiếng nối giáo cho giặc? Ông trải qua tâm trạng dằn co, nỗi lòng trăm mối, trong khi giáo sĩ Lefèbvre luôn tìm đến để thuyết phục ông làm vai trò thông dịch cho Trung tá Jauréguiberry và bảo đó là công việc chỉ để làm trung gian giúp Pháp hòa giải với Triều đình. Nhà văn Hoàng Lại Giang viết trong quyển sách Trương Vĩnh Ký - Bi kịch muôn đời: “Trương Vĩnh Ký vẫn còn bần thần (với lời thuyết phục của giáo sĩ Lefèbvre)... Nhiều năm tháng sau này, mỗi lần nhớ lại lối rẽ này của cuộc đời, Trương Vĩnh Ký vẫn còn y nguyên cảm giác bần thần lúc ấy. Nó bất ngờ quá đối với anh, chưa bao giờ anh xa rời cái ý nghĩ tiếp tục xây dựng, quảng bá chữ Việt của các thừa sai đi trước, để một lúc nào đó nó sẽ trở thành „Quốc ngữ“ của dân tộc anh. Từ ngày ở Penang anh đã nuôi ý nguyện dịch các bản Tứ thư, Ngũ kinh... ra thứ chữ các nhà truyền giáo. Những nhà khoa bảng tương lai sẽ học Thánh hiền qua thứ chữ này...". Ông đã nhận vai trò thông dịch viên cho Trung tá Jauréguiberry. Đây là lúc Ông bắt đầu hợp tác với Pháp sau khi hồi hương. Vị sĩ quan này rất ngưỡng mộ và nể vì Ông Ký với khả năng hoạt bác, kiến thức sâu rộng, khác hẳn với những người thông dịch bình thường. Ông ta biết tôn trọng và thông cảm cho cảm nghĩ của Ông Ký nên không ép buộc Ông phải làm những gì không thích. Trái lại, thiếu tá d'Aries thay thế ông Jauréguiberry được lệnh đi Trung Quốc, coi thường Ông Ký như những người thừa sai khác mà y đã dùng. Ông Ký chỉ muốn làm các công việc dịch thuật sách báo, tài liệu ở bàn giấy và từ chối đi làm thông ngôn cho những cuộc điều tra tầm thường. Do đó, d'Aries có ác cảm với Ông Trương Vĩnh Ký và viết báo cáo gởi đô đốc Charner: "...Với cương vị thông ngôn của Sở sự vụ bản xứ Sài Gòn, các thừa sai và thiếu tá Jauréguiberry đã quá đề cao P. Ký và vì vậy đã kích thích tính kiêu ngạo, cái tính đã làm anh ta quên mất mình là ai. Tôi không hề thấy ở anh ta một chút của sự siêng năng mẫn cán vốn được thiếu tá tiền nhiệm của tôi ca ngợi. Là người của quân đội Pháp nhưng anh ta lại làm việc không theo chỉ huy của tôi, mà theo ý thích của anh ta, một việc chưa có tiền lệ của một quân đội bách chiến bách thắng của chúng ta. Tôi buộc lòng phải sa thải anh ta - sa thải- không có tên gọi nào đúng hơn. Tất nhiên, không bao giờ tôi lại muốn giới thiệu anh ta cho ngài, như nhiều thừa sai gợi ý, để ngài lấy thông ngôn cho các hội đồng chiến tranh của chúng ta...". Bản phúc trình này cho thấy Ông Trương Vĩnh Ký không phải là một người thông dịch tầm thường, ông có chủ kiến, có một hướng đi riêng để làm sao có thể giúp đỡ dân tộc mình. Ông hành xử đúng như một thành ngữ La Mã: "Ở với họ mà không theo họ". Sau đó, Ông được điều động từ chiến hạm La Dragonne về Đồn Đất làm việc ở bàn giấy. Ngoài dịch các bản văn từ chữ Nho ra chữ Pháp, Ông còn phải nhận công việc chuẩn bị cho chương trình thành lập một trường thông ngôn sau này.

 

Năm 1861, Ông Trương Vĩnh Ký thành lập gia đình với Bà Vương Thị Thơ, con gái của Vương Văn Ngươn, Hương Chủ trong làng Nhơn Giang, Chợ Quán.

 

6. Kết luận

Tóm lại, khi bước chân vào đời Trương tiên sinh không có đường lựa chọn, mà bắt buộc phải hợp tác với chính phủ thực dân; nhưng Ông không đi ra khỏi định hướng của mình: phục vụ tổ quốc và dân tộc đang ở trong tình trạng chậm tiến. Ông đã từng thọ ơn của cha cố trong nuôi dưỡng và học đạo từ lúc 9 đến 21 tuổi ở trong nước và ngoại quốc. Vả lại, những người có công ơn với Ông luôn bao vây và âm thầm lèo lái cuộc đời của Ông theo chủ tâm của họ, của người Pháp. Ông không thể bội ơn của những người bảo trợ nuôi dưỡng này. Ông là người theo đạo Gia Tô, đi tu học đạo hải ngoại mà triều đình Huế đang có chính sách bài đạo hung hiểm. Vậy Ông Trương Vĩnh Ký phải làm gì để sinh sống khi trở về nước chịu tang mẹ và ở lại? Quần chúng xung quanh có còn tin tưởng Ông nếu Ông đi kháng chiến chống Pháp? Chỉ có con đường hợp tác với người Pháp để làm gạch nối giữa hai thế chính trị đương thời, giúp dân tộc khai phóng văn hóa và tạo nhân tố tiến bộ cho dân tộc. Ông Vũ Ký (2005) dù trong Lời Mở Đầu của quyển Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký đã nhấn mạnh: “... Đó là cái thế trung hòa uyển chuyển đối phó với chế độ để còn được làm chút gì hữu ích cho tiền đồ đất nước mà không vi phạm đến bản lãnh hướng thiện và hướng thượng của mình. Tâm tư của người bất di bất biến nhưng hành thì tế nhị khéo léo, bao dung được hướng đạo bởi cái tâm và không xa rời cái tâm định hướng. Tôi muốn nói đến tâm thức ái quốc dạt dào là hiện tượng thường trực luôn luôn âm ỉ trong tâm cảm của người". Ông quả là người có can đảm lớn, tinh thần yêu nước và dân tộc cao. Trên đường dấn thân, Ông Trương Vĩnh Ký có lập trường cố định, có khuynh hướng và thái độ ôn hoà nhưng tích cực để tạo phúc lợi cho dân tộc mình, ngay cả thế hệ tương lai. Bằng chứng là Ông đã để lại cho hậu thế một gia tài đồ sộ về ngôn ngữ và văn hóa, và công lao cổ võ phổ biến chữ Quốc Ngữ. Ông là một nhà trí thức khác thường: làm việc cho Pháp nhưng không chịu lấy quốc tịch Pháp để giữ tiết tháo của một sĩ phu, càng ngày càng có tư tưởng chống thực dân và không đi làm linh mục để phụng sự đời thiết thực hơn. Cuối cùng Ông đã rời bỏ dương thế trong hoàn cảnh bi đát và lòng ray rức, với sự luyến tiếc của rất nhiều người trong và ngoài nước. Nhà văn học Lê Thanh vào Nam viếng ngôi nhà của trương Tiên Sinh ở Chợ Quán năm 1943 đã viết "Hơn một lần, nghiêng mình trên di cảo vàng úa tôi cảm thấy tâm hồn tôi săn lại, khi thấy, bằng những dòng chữ rời rạc, tiên sinh ghi những nỗi lo phiền, buồn tủi, tôi đã cảm thấy lạnh trong tâm hồn khi đọc mấy chữ mà trên ấy tôi nhận thấy sự đau đớn nhiều hơn sức mạnh, tôi được biết rằng, vì quá tận tụy cho nhà cho nước, cho văn chương, tư tưởng mà tiên sinh đã phải trả cái giá đắt bằng cả cái sức khỏe và sau cùng, cả cái đời tiên sinh".

 

“ Phụ lục: Tiểu Sử Sơ Lược +2) của ông Trương Vĩnh Ký

-  Tên họ: Petrus Jean Baptiste Trương Vĩnh Ký, tự là Sĩ Tải.

- Cha : Trương Chánh Thi, Lãnh Binh.

- Mẹ : Nguyễn Thị Châu

- Vợ : Vương Thị Thơ

- Con : 7 trai và 2 gái.

- Ngày sinh: 6-12-1837: Sanh tại Cái Mơn, xã Vĩnh Thạnh, tổng Minh Lệ, Huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay tỉnh Bến Tre).

- 1840 : Ông Trương Chánh Thi chết ở Nam Vang, Cao Miên.

- 1842 : Ông bắt đầu đi học chữ Nho, chữ Nôm với thầy giáo Học.

+2) Các thông tin về tiểu sử của Ông Trương Vĩnh Ký được căn cứ trên đa số tài liệu có được. Một ít tài liệu có vài chi tiết khác biệt hơn ,chủ yếu về năm tháng như năm mồ côi cha mẹ,năm đi học ở chủng viện Pinhalu và Pulau Penang,năm mẹ mất

-------------------------------------------------------------------------------------------

- 1846 : Cố Tám nhận làm con nuôi. Cố Hòa và Cố Long tiếp tục nuôi dưỡng cho học đạo, dạy tiếng La Tinh, tiếng Pháp và "Quốc Ngữ".

- 1848 : Cố Long đưa Ông đi học ở chủng viện Pinhalu, Cao Miên.

- 1851 : Ông được chọn trong số 3 chủng sinh xuất sắc của khóa học với 25 chủng sinh để tiếp tục đi học ở chủng viện Giáo Hoàng Pulau Penang, Mã Lai.

- 1858 : Bà Nguyễn Thị Châu mất. Ông trở về nước chịu tang.

- 1860 : Làm thông dịch viên cho Trung tá Jauréguiberry.

- 1861 : Lập gia đình. Dạy học ở trường Thông ngôn thành lập ngày 8-5-1961.

- 1863 : Tham gia đoàn thông ngôn của phái bộ Phan Thanh Giản đi Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông từ 14-7-1863 đến 18-3-1864.

-  1864-68: Giáo sư và Hiệu Trưởng trường Thông Ngôn.

- 1865-69: Trợ bút và Tổng Tài (1869-1872) của Gia Định Báo bằng chữ Quốc Ngữ.

- 1871 : Giáo sư trường Sư Phạm và được phong chức Tri Huyện hạng nhứt.

- 1872 : Thông ngôn cho phái bộ Y Pha Nho điều đình với triều đình Huế về thương mại. - 1873 : Dạy Hán Văn và Việt Văn ở trường Tham Biện Hậu Bổ, Chánh Đốc Học của trường này vào 1875.

- 1874 : Được đề cử vào cuộc chọn lựa "Toàn Cầu Bác Học Danh Gia" và được trúng tuyển vào danh sách 18 nhà Bác Học thế giới "Thế Giới Thập Bát Văn Hào" +3).

- 1878 : Đi tham quan ở Bắc Kỳ năm Ất Dậu. Hội viên của Hội Đồng Thành Phố, Hội Viên Hội Đồng Học Chánh Thuộc Địa.

- 1883 : Được Hàn Lâm Viện Pháp phong hàm Viện Sĩ (Officier d'Academie).

- 1886 : Giao tiếp với Paul Bert, Toàn Quyền Đông Dương. Làm việc ở Cơ Mật Viện và dạy vua Đồng Khánh học chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ.

- 1887 : Đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương. Sau đó bắt đầu nghỉ hưu.

- 1888 : Xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Trình, 18 số (1888-1889).

- 1888-98: Viết sách, xuất bản với tiền túi của mình. Bệnh hoạn luôn. Giáo sư thổ ngữ Đông Dương tại trường Hậu Bổ.

- 1-9-1898: Mất vì bệnh trong cảnh nghèo nàn.

Chú ý: Ông được hưởng danh vị "Khuê Bài Dũng Sĩ Cứu Thế" vào tháng 10 năm 1868 và làm hội viên của nhiều hội đoàn ở Pháp như: Hội Nhân Văn Khoa Học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội Nhân Chủng Học, Hội Giáo Dục, Hội Á Châu, Hội Địa Lý Paris (Nguyễn Vĩnh Thượng, 2002).

 

 Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Lại Giang. 2001. Trương Vĩnh Ký - Bi kịch muôn đời. NXB Văn Hóa và Thông Tin, 712 trang.

2. Huy Lữ. 1998. Nhà Bác Học Trương Vĩnh Ký: Một Đoá Sen Thơm. Trong Đặc San Petrus Ký -1998, Hội ái Hữu Petrus Ký Nam Cali, trang 45-51.

3. Lê Thanh. 1943. Trương Vĩnh Ký biên khảo, trong Phổ Thông Chuyên San, Tân Dân xuất bản phát hành số 3, tháng 9-1943.

4. Nguyễn Văn Trấn, 1993. Trương Vĩnh Ký, Con Người và Sự Thật. Tp HCM: Ban khoa học xã hội thành ủy, 210 trang.

5. Nguyễn Vĩnh Thượng, 2002. Trương Vĩnh Ký: Nhà Văn Hóa Lỗi Lạc. Trong Đặc San Petrus Ký -2002, Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Ký - Bắc California, trang 14-29.

6. Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn. 2000. Lịch sử Việt Nam: Từ nguồn gốc đến năm 1884. NXBTPHCM, Sài Gòn, 479 trang.

7. Phạm Văn Sơn. 1960. Việt Sử Toàn Thư (Từ thượng cổ đến hiện đại). NXB Thư Lâm Ấn Thư Quán, Sài Gòn, 738 trang.

8. Trần Trọng Kim. 1971. Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu xuất bản, Bộ Giáo Dục, Sài Gòn, Tập II, 396 trang.

9. Vũ Ký. 2005. Lời Mở Đầu của quyển sách Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký, 620 trang.

 -------------------------------------------------------------

+3) Có người viết không đúng Ông Petrus Ký được xếp hàng thứ 17 trong danh sách 18 nhà Bác Học. Thật ra bảng danh sách này được xếp theo thứ tự a,b,c... của chữ tên đứng đầu. Do đó, danh sách Thế Giới Thập Bát Văn Hào không có hạng thứ gì cả.

Tác giả bài viết: Tiến sĩ Trần Văn Đạt

Nguồn tin: www.petruskylhp.org


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 CHÚNG TÔI TRÊN GOOGLE+

 THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

 TIN TỪ DIỄN ĐÀN

  Cung cấp mẫu bàn thờ gia tiên đẹp hiện đại cho gia đình

  • Bởi: sonle3010
  • 01/03/2017
  • Đã xem: 5
Thờ cúng tổ tiên, thần phật là phong tục tập quán lâu đời, và là nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của dân tộc ta mà không nơi nào có được, thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống quý báu uống...

  Tìm nguồn gốc họ trương bá

  • Bởi: 1234567
  • 29/08/2016
  • Đã xem: 364
Mọi người cho hỏi Nguồn gốc họ Trương bá ở đâu a. Cụ tổ họ trương bá ở đâu a. BS Trương bá Quân Dt 0904051567 DÒNG HỌ TRƯƠNG BÁ (LÀNG THỊNH MỸ, XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) (BS.CKII....

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập71
  • Hôm nay1,415
  • Tháng hiện tại164,584
  • Tổng lượt truy cập6,359,424
Quảng cáo Google
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây