Điện tiền đô kiểm Lương Quận Công Trương Công Dà

Thứ hai - 18/04/2016 20:11
Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công Trương Công Dà, Thủy tổ họ Trương Công đến lập nghiệp ở Trường Dục, lập công trên đất Quảng Bình và sinh ra các thế hệ công hầu khanh tướng phò các chúa Nguyễn, vua Nguyễn.
Bìa cuốn sách Địa chí Trường Dục của nhà nghiên cứu Trần Văn Chường - Ảnh http://baoquangbinh.vn
Bìa cuốn sách Địa chí Trường Dục của nhà nghiên cứu Trần Văn Chường - Ảnh http://baoquangbinh.vn
Cho đến năm 2000, người làng Trường Dục chưa ai biết có dòng họ Trương Công đến định cư ở Trường Dục và đã sản sinh nhiều thế hệ danh tướng lẫy lừng trong lịch sử thời các chúa Nguyễn và được chúa ban cho chữ “PHÚC” thành họ Trương Phúc. Chỉ đâu đó có vài thông tin về Trương Phúc Phấn và Trương Phúc Hùng. Đến nay cũng chưa có họ Trương nào trong làng biết được gốc gác họ mình có quan hệ như thế nào với vị Trương Quý công, Tiền hiền khai khẩn mà làng đang thờ và họ Trương có Thủy tổ là Trương Công Dà, từ Thanh Hóa theo Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm phủ Tân Bình (sau đổi là Quảng Bình - 1604), đắp lũy Trấn Nhân (tiền thân lũy Trường Dục) và đinh cư ở Trường Dục để sinh con lợi cháu là các bậc công hầu khanh tướng phò các chúa Nguyễn và lập nghiệp, lập công, có công mở cõi.

Quá trình tìm kiếm khi viết cuốn “Địa chí Trường Dục”, chúng tôi đã tìm được trong sử sách và các bài nghiên cứu về dòng họ Trương Công với Thủy tổ Trương Công Dà (hoặc Da, Gia) đến lập nghiệp và đinh cư ở làng Trường Dục, đã sinh hạ các thế hệ tướng soái và tỏa đi gây dựng cơ nghiệp các tỉnh phía Nam đất nước. Theo cuốn phả ký “Trấn Nhân tiền liệt biểu” biên soạn giữa thế kỉ XIX được Tiến sĩ Ngô Thời Đôn dịch năm 1994 và lược đồ Phả hệ dòng Trương Phúc hiện ông Trương Phước Tập ở nhà số 243 đường Tăng Bạt Hổ, thành phố Huế đang lưu giữ và cung cấp cho chúng tôi thì từ Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công Trương Công Dà, thế kỉ XVI, đến hậu duệ đời thứ 7, giữa thế kỉ thứ XIX có 10 vị tước Công và Quốc công, 72 vị tước Hầu, 7 vị tước Bá và hơn chục vị là Thượng thư, Tham tri, Tướng quân, Án sát sứ, Bố chính sứ, Lãnh binh, chưa kể những trường hợp thất lạc thông tin.

Bài viết xin lược thuật về các nhân vật nổi tiếng được sử sách lưu truyền.
 

Thế hệ mở đầu là Trương Công Dà và Trương Công Trà

Trương Công Dà, có sách chép là Gia, Da. Tiến sĩ Ngô Thời Đôn khi dịch trong cuốn phả ký “Trấn Nhân tiền liệt biểu” phiên âm là “Dà” và chúng tôi xin chép theo Tiến sĩ Ngô Thời Đôn. Theo “Trấn Nhân tiền liệt biểu”, nguyên tổ của Trương Công Dà là Trương Huyền Minh Chân Nhân; tiên tổ là Trương Đạo Phát Chân Nhân, quê trang Hoàng Vân, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa (nay là thôn Hoàng Vân, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).

Trương Công Dà sinh, mất năm nào chưa rõ. Nhưng theo hành trạng được chép trong sách thì trước năm 1558, ông đã có công phò vua Lê, được vua Lê phong Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công. Ông cùng em trai là Phó tướng Mỹ (Trà) Quận công Trương Công Trà đưa gia nhân theo Nguyễn Hoàng vào xứ Thuận Hóa năm 1558.

Năm 1569, Nguyên Hoàng và các tướng sĩ của ông đánh tan đội quân của ba anh em người Hành Phổ là Mỹ Lương, Văn Lan, Nghĩa Sơn tại trận cầu Ngói, Hải Lăng và Hương Da, Minh Linh (Vĩnh Linh). Trong trận này, Trương Công Trà tử trận ở Minh Linh. Vợ là Trần Thị, lập công báo thù cho chổng được ban tặng Quận Trà Phu nhân. Từ đó, Nguyễn Hoàng nắm giữ toàn bộ vùng đất hai xứ Thuận, Quảng.

Để tính kế sách lâu dài, Nguyễn Hoàng cử Trương Công Dà ra trấn thủ Tân Bình (năm 1604 đổi là Quảng Bình) và sai đắp lũy Trấn Nhân (tiền thân lũy Trường Dục) và làm nhà ở đó. Như vậy, Trương Công Dà là người đầu tiên của dòng Trương Công định cư ở đất Trường Dục sau trận thắng 1569 và gắn bó với Quảng Bình với chức vụ Trấn thủ đầu tiên của quân Nguyễn ở Tân Bình và lập nên chiến lũy tiền tiêu của quân Nguyên buổi đầu lập nghiệp ở Thuận Hóa dưới thời Nguyễn Hoàng (1525-1613).

Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công Trương Công Dà là người đồng hương, đổng chí, đồng tâm, đồng thời với Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. Trang Hoàng Vân quê ông ở canh trang Gia Miêu Ngoại của Nguyễn Hoàng, cách nhau chỉ một dải đồi hẹp. Hiện nay, hai trang thành hai thôn của xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

“Trấn Nhân tiền liệt biểu” chép về ông như sau: “Sinh thời, ông là người cố tư chất, tác phong dị kỳ. Đến lúc trưởng thành, ông ứng nghĩa theo Tiên quân, phò Lê, diệt Mạc. Về sau, họ Trịnh ngầm chứa dị chí, ông đem quân tướng cùng con cái, theo lời dạy của Tiên quân, vào Thuận Hóa gây dựng sự nghiệp; trên thì giúp đỡ Tiên quân, dưới thì phủ dụ binh lính, sai đắp lũy Trấn Nhân làm phương sách chống giữ”.

‘Triều Nguyễn bắt đầu gây dựng nên từ đó, quyền bính con cháu nhà họ Trương cũng từ đó mà thịnh vượng”.

Năm 1627, quân Trịnh tiến vào phía Bắc cửa Nhật Lệ. Lão tướng Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công Trương Công Dà cùng con là Phấn Vũ hầu Trương Công Côn (húy chữ là Khoa - sử chép là Phúc Phấn) ra trận. Trong trận này, lão tướng Công Dà cùng vị giám chiến trẻ tuổi Chiêu Vũ Nguyên Hữu Dật lập kế phản gián, vừa phục đánh, vừa bí mật tung tin ở kinh đô Thăng Long có biến. Nghe tin, quân Trịnh hoảng sợ lui binh về kinh đô Thăng Long và cử tướng trấn giữ Bắc sông Gianh.

Trong lời tựa của Phả ký có viết: “Khi tập gia phả đã thành, tôi bèn tổng hợp các việc hiển hách, làm ra một quyển ghi về Sự, Biểu mở đầu gọi là TRẤN NHẴN TIỀN LIỆT BIẾU. Người sau nếu có hỏi tôi ‘Trấn Nhân’’ là gì thì nói là tên một lũy cũ; ‘Tiền Liệt” là gì thì nói là sự oanh liệt của người xưa”,

Lại chép tiếp: “Giữ được Trấn Nhân mà cho là thấp thì tồn tại được ư? ”... “Sao không coi cái lớn của Trấn Nhân là cửa nhà của Phú Xuân buổi trời đất ban sơ? ”.

Qua lập luận của tác giả phả ký cho thấy vị trí quan trọng của lũy cổ Trấn Nhân được Thủy tổ họ Trương Công khai đắp từ thời Nguyễn Hoàng. Khi thực hiện đắp hệ thống lũy theo đồ thức của Đào Duy Từ, chính công lao dựng lũy thuở ban sơ của Trương Công Dà đã giúp quân Nguyễn đắp lũy Trường Dục chỉ trong hơn một tháng đã đắp xong chiến lũy l0km, thượng từ Thần Đinh và núi Trường Dục đến hạ giáp bãi Hạc Hải.

Trước đó lũy Trấn Nhân là nơi Trương Công Dà gắn bó và chọn để đinh cư ở Trường Dục. Khi lũy Trường Dục trở thành khâu quan trọng của hệ thống lũy Thầy thì chính các thế hệ tướng lĩnh con cháu ông đã lập công trên chiến lũy, thành tên trong lịch sử: Lũy “Phấn cố trì” (lũy Trương Phúc Phấn cố giữ) và đã giữ vững, góp phần cho quân Nguyễn thắng trận tại đầm lầy Võ Xá, tạo nên thắng lợi của chiến cuộc năm 1648.

Dẫu triều Nguyễn chưa đánh giá đúng công lao của Trương Công Dà trong những danh tướng tiên phong theo Nguyễn Hoàng lập nghiệp ở xứ Thuận Hóa buổi ban đầu, nên Liệt truyện chỉ chép ghép công lao của ông với con ông là Trương Phúc Phấn, nhưng với làng Trường Dục và chiến lũy Trường Dục, ông là người khai mở một chiến tuyến mang tầm chiến lược từ buổi ban sơ. Ông cũng là vị Trấn thủ đầu tiên của phủ Tân Bình, năm 1604 được Nguyễn Hoàng đổi tên thành phủ Quảng Bình. Đó là cuộc đời của vị tướng trải hơn 70 năm khuông phò chúa Nguyên và lập công khuông phò xã tắc.

Với làng Trường Dục, ông là một cư dân mẫu mực trong sự nghiệp xây dựng làng xã: định cư, lập lũy, khai hoang mở đất tự túc tự cấp, rèn luyện dân binh, nuôi dạy nghiệp làm tướng cho con cháu để nối đời là công hầu khanh tướng với trọng trách lịch sử là: “Coi cái lớn của Trấn Nhân là cửa nhà của Phú Xuân buổi trời đất ban sơ”!

Suốt đời không rời nghiệp làm tướng nơi phên dậu, Điện tiền Đô Kiểm điểm Lương Quận công Trương Công Dà vừa thực hiện thiên chức một bề tôi trung thành, vừa thực hiện chức trách một nhà tổ chức khai canh lập ấp, huấn luyện dân binh với phương châm “động ư binh, tịnh ư nông” (khi có biến làm lính, khi yên hàn làm nông) chủ động tại chỗ, tại trận. Lũy Trấn Nhân do ông tổ chức xây dựng không chỉ là chiến lũy mà trước hết và liên tục lâu dài vẫn là hệ thống lũy phòng hộ thiên tai cho dân các làng trong vùng vào mùa mưa lũ và gió mùa đông bắc. Với ý nghĩa thực tiễn đó, ông ưở thành vị tướng tý quốc hộ dân, vị phúc thần của dân.

Tiếc là không có tài liệu ghi chép về năm sinh, năm mất và mộ phần của ông. Điều khá chắc chắn là mộ ông ở Trường Dục cổ vì công nghiệp suốt đời ông gắn với Trường Dục.

Theo ông vào Thuận Hóa có người em trai đã được vua Lê phong tặng Phó tướng Mỹ (Trà) Quận công Trương Công Trà.
 
Con của ông là Công Côn (húy chữ là Khoa, sử chép là Phúc Phấn), một danh tướng nổi tiếng trong lịch sử chiến tranh Trịnh - Nguyễn.

Từ Thủy tổ Trương Công Dà đã sản sinh 7 thế hệ với 10 vị Quốc công và Quận công, 72 vị tước Hầu, 8 vị tước Bá đã được Phả ký “Trấn Nhân tiền liệt biểu” biên chép và được Tiến sĩ Ngô Thời Đôn phiên dịch năm 1994. Cuốn phả ký nay được lưu ở ông Trương Phước Tập, số 324 đường Tăng Bạt Hổ, thành phố Huế.
 
Trần Văn Chường
Tạp chí thông tin khoa học & công nghệ Quảng Bình
số tháng 05/2014
Đề nghị ghi rõ nguồn "Cộng đồng Họ Trương Việt Nam - http://hotruong.net" khi sử dụng lại các thông tin có bản quyền riêng của trang web này. Đề nghị bảo lưu các bản quyền được sử dụng trên Trang Cộng đồng Họ Trương Việt Nam khi quý vị sử dụng lại.
Trân trọng cảm ơn!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập54
  • Hôm nay4,621
  • Tháng hiện tại137,173
  • Tổng lượt truy cập6,522,375

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây