Đại tá Anh hùng Trương Thị Mỹ – “Mỹ nhân Việt cộng” vùng sông nước Cà Mau

Thứ năm - 28/05/2015 07:31
Thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước, ở Cà Mau có một cô bé tham gia cách mạng khi còn rất nhỏ, năm 13 tuổi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên và đến năm 15 tuổi, được tổ chức giao nhiệm vụ ngụy trang gia đình sống trên ghe chở mướn, dùng ghe hai đáy để cất giấu và vận chuyển vũ khí, đạn dược từ bến đỗ tàu không số đường Hồ Chí Minh trên biển Đông đến các đơn vị các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Trương Thị Mỹ
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Trương Thị Mỹ

Ngày ngày, cô chở vũ khí qua lại các bến sông chi chít đồn bốt, trạm kiểm soát của địch. Nhiều lần địch khám xét, lục lọi nhưng nhờ nhan sắc trời cho, cùng với sự bình tĩnh, gan dạ và mưu trí cô đã an toàn qua mắt địch với khuôn mặt phúc hậu, hiền lành và ngây thơ của tuổi trăng rằm. Bà con và cách mạng xứ Cà Mau thường gọi cô là “Mỹ nhân ngư Việt Cộng”.

Khi tuyến đường vận chuyển vũ khí bị địch phát hiện đánh phá, một mình chị dò dẫm mở đường mới để đi, không hề sợ hiểm nguy, gian khổ. Chuyện kể lại, có lần đang vận chuyển tiền lên biên giới Campuchia cho bộ đội mua gạo và thuốc men tàng trữ, gặp địch chặn đường khám xét rất gắt gao, chị bỏ xuồng lại, một mình cho tiền vào thùng thiếc ôm bơi qua sông trong đêm tối mịt mù bọn địch không thể nào ngờ được kịp đến nơi giao cho bộ đội. Suốt 6 năm liền, “mỹ nhân ngư Việt Cộng” đã vận chuyển 70 chuyến hàng, đưa 200 tấn vũ khí đến nơi an toàn và rất nhiều lần chở bộ đội, cán bộ dọc ngang trên miền sông nước.

Tuổi nhỏ anh hùng của Trương Thị Mỹ

Nữ anh hùng Trương Thị Mỹ, sinh năm 1953, quê xã Đông Thới, huyện Cái Nước, Cà Mau. Như bao người dân vùng sông nước trong thời chiến tranh loạn lạc, bom đạn và nghèo khổ lay lắt trên mỗi phận người. Rừng U Minh và rừng tràm đước Năm Căn, đất Mũi luôn hứng chịu những trận bom, chất độc phát quang héo úa, trơ trụi. Trong vùng đất đầy gian khổ và khắt nghiệt ấy, cô bé Trương Thị Mỹ (Ba Mỹ) đã lớn lên và sớm giác ngộ tham gia cách mạng.
 

Ba chị em Trương Thị Mỹ (ở giữa) tham gia vận chuyển vũ khí từ các bến đón về tận tay bộ đội. Ảnh tư liệu năm 1970 chụp lại
Ba chị em Trương Thị Mỹ (ở giữa) tham gia vận chuyển vũ khí từ các bến đón về tận tay bộ đội. Ảnh tư liệu năm 1970 chụp lại

Trong cuốn tài liệu giấy đã ngã màu, người nữ anh hùng cất giữ như một báu vật lưu niệm từ những ngày đầu đi hoạt động trong tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản mang tên “Chim Việt” thuộc Tỉnh đoàn Cà Mau năm 1966 thời kỳ này Bí thư tỉnh đoàn Cà Mau là anh Ba Trần (Trần Quang Sánh). Hồi ấy, cô bé Trương Thị Mỹ đã được đi theo các anh chị trong làng tham gia văn nghệ ca hát, sinh hoạt đoàn thể và tuyên truyền về lòng yêu nước, căm thù giặc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai Sài Gòn. Đến năm 1968, Trương Thị Mỹ được cấp trên giao một nhiệm vụ rất quan trọng: Hằng ngày, cô dùng ghe hai đáy chở vũ khí, tài liệu, cán bộ qua 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ. Lúc đó, ghe hai đáy chưa bị lộ nên Ba Mỹ cải trang thành con gái trong một gia đình buôn bán trên sông nước để hoạt động công khai. Mỗi khi gặp lính, Ba Mỹ bao giờ cũng xử lý các tình huống hết sức mưu trí, nhất là phát huy khả năng sắc đẹp của mình để qua mắt quân địch trong bối cảnh đặc biệt khó khăn, nguy hiểm.

Tình hình chiến sự Cà Mau và Miền Nam vào năm 1965, với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Mỹ và Chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh các hoạt động quân sự và can thiệp sâu nhằm cứu vãn chương trình “Bình định” với hệ thống “Ấp chiến lược” đang bị lung lay, trên đà sụp đổ sau Đồng Khởi 1960. Từ ngày 06-3-1965, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng và đến 12-5-1965 đã có thêm 19.000 quân. Ngày 17-7-1965 Tổng thống Giôn-xơn chuẩn y đề nghị của Oét –mô- len vội vàng tăng thêm 34 tiểu đoàn (gồm 100.000 quân) để thực hiện kế hoạch mùa khô 1965- 1966 và đưa nước Mỹ bước vào một cuộc chiến tranh trên đất liền Châu Á chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

Từ năm 1965 đến đầu năm 1968, lực lượng thanh niên xung phong của tỉnh ngày một phát triển có mặt ở mọi nơi, phục vụ cho chiến trường cả nước. Tỉnh Đoàn đã cử cán bộ để trực tiếp phụ trách lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP) gồm các đồng chí: Bảy Lối, Sáu Thu, Sáu Cương…cung cấp cho Trung ương hơn 2000 TNXP, 5000 cho chiến trường Tây Nam Bộ, và 3000 bổ sung cho lực lượng vũ trang và các ngành trong tỉnh. Đầu năm 1969, cuộc chiến tranh càng ác liệt, việc tiếp tế cho chiến trường Cà Mau gặp rất nhiều khó khăn trong công tác vận chuyển vũ khí tiếp tế cho chiến trường. Nhiều tấm gương anh dũng hy sinh lao động quên mình, chiến đấu dũng cảm để bảo vệ vũ khí, bảo vệ hàng hóa, phục vụ kịp thời cho chiến trường như Trung đội nữ TNXP do đồng chí Dung và đồng chí Đinh Kim Lăng phụ trách.

Trong một chuyến vận chuyển vũ khí từ biên giới Hà Tiên về (6/1968) bị rơi vào ổ phục kích của địch, các chị đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, hầu hết bị hy sinh và một số bị địch bắt nhưng các chị quyết không để cho vũ khí rơi vào tay giặc. Hay như gương anh dũng của đồng chí Tư Hùng, cùng 4 đồng đội thuộc Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái III đã chiến đấu suốt 15 ngày đêm với 01 trung đoàn địch để bảo vệ kho vũ khí. Cuối cùng sức lực quá yếu và lực lượng không cân sức, các đồng chí đã dũng cảm dùng 50 kg thuốc để đánh sập kho hàng, quyết không để vũ khí rơi vào tay địch.

Vào đúng cái năm Trương Thị Mỹ được kết nạp vào Đoàn (1966), tổng số ngụy quân ở Bạc Liêu – Cà Mau lên đến 8.320 tên và hàng trăm tên cố vấn Mỹ, xây dựng thêm 90 đồn, củng cố 8 chi khu và các căn cứ quân sự quan trọng. Tỉnh Đoàn đã mở đợt vận động thanh niên tòng quân, thực hiện phong trào “Năm xung phong” hầu hết các xã, ấp vùng giải phóng. Chỉ tính trong tháng 11/1967 toàn tỉnh đã có 937 thanh niên tòng quân. Huyện Cái Nước trong 20 ngày đầu tháng 11-1967 đã có 600 thanh niên đăng ký gia nhập lực lượng võ trang, trong đó có 129 nữ, huyện Giá Rai có 347 đoàn viên thanh niên đăng ký tòng quân. Ở các huyện Tư Kháng (Đầm Dơi bây giờ), Duyên Hải (Ngọc Hiển), Mười Tế (Trần Văn Thời) đã tuyển đưa hàng nghìn thanh niên lên đường chiến đấu. Riêng năm 1967, lực lượng du kích đã đánh 1.450 trận. Nhiều đội du kích trẻ hăng hái sáng tạo, tìm địch mà đánh, mà đánh rất giỏi, và gây thiệt hại lớn cho chúng. Du kích xã Lương Thế Trân, ven thị xã Cà Mau dùng chất nổ đẩy lùi một tiểu đoàn chủ lực ngụy, diệt nhiều tên, diệt gọn một trung đội dân vệ. Các đội du kích Hòa Thành, Định Thành, Phú Mỹ, Long Điền, Phong Lạc, Khánh Lâm, Trí Phải, Tạ An Khương, Quách Văn Phẩm, Ninh Quới, Tân Lợi, Năm Căn… đánh địch rất giỏi hầu hết là thanh niên.

Sự kiện lịch sử tháng 10-1966, quân và dân huyện Đầm Dơi bao vây chi khu quân sự Tân Duyệt. Bằng phương pháp đào chiến hào vây hãm, đánh lớn suốt 100 ngày đêm, ép chúng vào thế bí, buộc bọn lính phải chạy về Giá Ngựa. Ở Tân Duyệt chỉ còn đồn lẽ. Nữ du kích Dương Thị Cẩm Vân đã có mặt ở chiến hào suốt thời gian vây hãm, bám giữ mũi tiền tiêu, bắn trả diệt nhiều địch, được quân khu 9 phong là “Nữ Kiện tướng chiến hào”. Cách đánh sáng tạo đó đã được vận dụng trong toàn tỉnh và trong toàn khu Tây Nam Bộ. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, tuổi trẻ hăng hái cùng nhân dân xây dựng cuộc sống mới ở vùng giải phóng. Chị em nữ thanh niên vừa tham gia du kích, vừa đi đầu trong sản xuất cùng bà con canh tác được hơn 85 ha lúa trong năm 1967 và 13.590 lượt người tham gia vào tổ tập đoàn đổi công. Những bước tiến trên các mặt văn hóa, xã hội càng khích lệ tinh thần của thanh niên và nhân dân.

Cả nhà chuyển vũ khí, chở Cán bộ, bộ đội trên sông

Tuy cải trang trong vai con gái thương hồ phiên bạt trên sông nước lênh đênh để vận chuyển vũ khí, tài liệu bằng ghe hai đáy rất an toàn và qua mắt địch, nhưng cảm giác về sự không ổn định lâu dài luôn khiến Trương Thị Mỹ và đồng đội lo lắng, bất an. Đặc biệt, đã có vài vụ địch phát hiện ra các phương tiện vận chuyển và công cụ gia dụng cất giấu vũ khí, tài liệu mật có hai đáy bị lộ. Do đó, bọn địch tăng cường kiểm soát và lục lọi rất gắt gao. Có lần, đang vận chuyển vũ khí trên ghe qua trạm kiểm soát, bọn lính kiểm tra rất kỹ lưỡng, Mỹ bối rối gọi nhầm tên một bà cụ cơ sở cách mạng đang đóng vai má cô đi cùng ghe. Suýt nữa là bị lộ. Rất may lần ấy địch không phát giác. Cũng chính sau lần nguy hiểm chết người đó, Mỹ báo báo tổ chức xin vận động cả nhà cùng tham gia vận chuyển vũ khí, tuy nguy hiểm nhưng chắc chắn vỏ bọc sẽ an toàn hơn, không để sơ suất nhầm lẫn xảy ra. Hơn ai hết, cô biết má cô, bà Nguyễn Thị Thuyền không dễ thuyết phục cùng con gái tham gia công việc đầy nguy hiểm này, nhưng từ trong sâu thẳm tấm lòng thương con, căm thù giặc má cô sẽ phải chấp nhận cùng tham gia vận chuyển vũ khí cho cách mạng. Cha cô là bộ đội chủ lực của tỉnh chiến đấu và anh dũng hy sinh vào năm 1960 trên mảnh đất quê hương để lại má cô một mình nuôi năm con nhỏ dại. Người chị lớn và em trai kế Mỹ đã thoát li làm cách mạng. Bà Thuyền ở với Mỹ thứ ba, em gái Bích Vân 14 tuổi, em út Trạng lên 11 tuổi.

Lựa lúc má vui vẻ, Mỹ kể chuyện giả làm con gái người khác trên ghe vận chuyển vũ khí quên gọi “má” mà gọi bằng Dì chút nữa là bị lộ, địch bắt như chơi. Nghe xong má cô không những nổi giận mà còn nhận lời ngay để cùng con gái vận chuyển vũ khí trên ghe nhà sống chết có nhau. Cả nhà trên một ghe cùng đi làm cách mạng, hạnh phúc không gì bằng. Ngay cả hai đứa em Bích Vân, út Trạng nghe nói được đi ghe cùng chị và má buôn bán trên sông nước lòng vui như mở cờ trong bụng. Ba Mỹ bàn với má, vận chuyển vũ khí một tấn cũng như mười tấn nếu chúng gặp thì có khác gì nhau. Do đó xin luôn tổ chức đổi ghe nhỏ chở 2 tấn vũ khí lâu nay thành ghe lớn có thể vận chuyển trên 10 tấn vũ khí, ghe càng lớn càng dễ cất giấu và qua mắt địch với vỏ bọc cả gia đình thương hồ côi cút góa bụa lênh đênh hành nghề hạ bạc. Lúc này cấp trên nhận thấy có thể nguy hiểm xảy ra cho gia đình mấy má con cô khi trên ghe mang cả chục tấn vũ khí chẳng may…nhưng thái độ cương quyết và dũng cảm của Mỹ đã làm cấp trên cô nghe theo không thể can gián lời nào được.

Vận tải lấy danh nghĩa công khai là chở hàng hóa, người vận tải đều có giấy tờ. Phần bí mật chính là vũ khí giấu trong hàng hóa. Vận chuyển bán công khai thì phải dùng loại ghe hai đáy có trọng tải 3-4 tấn, trong đó có thể chứa được 1 tấn vũ khí, có chuyến chở được cả đại bác 105 mm. Nhiều ghe có hai mui, mỗi mui có thể chở thêm 100 kg. Người đi trên các ghe vận tải này thường là các nữ chiến sĩ cải trang, còn nam giới thì phải là những người lớn tuổi, mang theo cả vợ con, cha mẹ, y hệt như một gia đình sống bằng nghề vận tải …

Có lần, Thượng tá Trương Thị Mỹ, một trong những nữ chiến sĩ đưa cả mẹ già em dại theo ghe, đã kể lại : “Mẹ già, em dại, nếu có chuyện gì xảy ra thì cả gia đình đều phải hy sinh. Những suy nghĩ đó đã làm tôi trăn trở, nhưng những đồng chí, đồng đội, những lãnh đạo của tôi là những người đã động viên tôi nhiều nhất. Hơn 5 năm hoạt động vận tải “công khai, hợp pháp”, tôi đã vận chuyển hơn 70 chuyến, bằng nhiều phương tiện khác nhau, chở được 200 tấn vũ khí, hàng chục ngàn cán bộ trung cao cấp của Quân khu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian nan vất vả, qua mọi bốt đồn, mọi sự phong tỏa của địch, chuyển hàng, đưa cán bộ đến nơi an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không để xảy ra mất mát hàng hóa hay gây thiệt hai về con người, phương tiện. Một điều quan trọng nữa là bài học về nhân dân. Nhân dân không giúp đỡ, không hỗ trợ, thì không thể nào thành công. Nhân dân giúp hàng hóa để ngụy trang, nhân dân báo tin trên từng tuyến đường vận chuyển, nhân dân giải vây trong những lần bị bắt, bị tra xét, nhân dân góp ý đế khả năng hoạt động công khai trong lòng địch ngày càng hoàn thiện hơn”.

Hình thức này tồn tại suốt từ giữa những năm 1960, cho đến tháng 06/1968 thì xảy ra sự cố: Một chiếc ghe của C.100 bị bắt do bị chỉ điểm. Ghe bị kéo lên bờ, bổ làm đôi, lộ hết mọi chuyện. Người bị bắt (chủ ghe là chiến sĩ Chín Mập bị tra tấn đến cùng, không khai và bị thủ tiêu, vợ bị bỏ tù cho đến ngày giải phóng mới được ra). Tuy không ai khai báo nhưng toàn bộ phương thức hoạt động này đã bị lộ. Sau đó nhiều chiếc ghe khác bị khám xét, tổn thất rất lớn. Toàn bộ các tuyến bán công khai phải ngừng hoạt động để tìm phương thức khác.

Trên chiến trường miền Nam vào những năm 1970-1971, giặc Mỹ rải bom khắp nơi, tổ chức nhiều cuộc càn quét qui mô lớn nhằm chặn đường tiếp tế vũ khí, lương thực của ta từ miền Bắc tiếp viện bằng đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển Đông với những đoàn tàu không số và từ Campuchia vào căn cứ Trung ương Cục Miền Nam tại biên giới Tây Ninh. Thời gian khốc liệt này, vũ khí, tài liệu không nhiều, nên các đoàn vận tải chuyển sang chở quân. Trương Thị Mỹ lại dùng thuyền hai đáy chở bộ đội đi đánh giặc ngụy trang phía trên là trái cây, củi gỗ…còn phía dưới là bộ đội. Cô kể lại: “Mỗi lần đi phải làm sao vừa an toàn vừa được việc, nhưng đồng thời vẫn tiết kiệm tối đa xăng, dầu và tiền bạc cho cách mạng. Vì thời đó, qua mỗi đồn vẫn thường phải lót tay bọn lính 500 đồng”.

Chuyện kể lại, có lần Ba Mỹ nhận nhiệm vụ chở bộ đội đi từ Cà Mau sang Campuchia. Trên thuyền chở 3 tấn củi ở trên, còn ở dưới là hơn chục chiến sĩ Quân giải phóng. Đang đi trên sông Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời- Cà Mau) thì bị bọn lính gác trạm vẫy gọi vào bến. Tình thế rất căng thẳng vì chưa biết được ý đồ bọn lính  ra sao. Khi thuyền cập vào bến, bọn lính nhảy ào lên hơn một chục tên, chúng ép cô chở chúng đi càn. Bọn giặc không thể nào ngờ phía dưới thuyền hai đáy là bộ đội Quân giải phóng, còn cô chủ xinh đẹp là một “việt cộng” thứ thiệt. Ba Mỹ thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, chở bọn địch đến nơi chúng yêu cầu rồi quay thuyền ra sông tiếp tục cuộc hành trình.

Lần khác, cô được giao nhiệm vụ chở chú Sáu Hoảnh (sau này là Thiếu tướng) một cán bộ cao cấp sang Campuchia họp khẩn. Giặc đặt rất nhiều đồn bót trên tuyến đường sông, nên sự nguy hiểm rất cao. Chẳng dè khi đến đồn Sử Kê (Kiên Giang) đúng lúc bộ đội đang vây đồn đánh nhau rất dữ dội. Bọn lính chặn bắt tất cả các thuyền ghe chạy ngang qua, dùng dân làm “lá chắn sống” để bộ đội không pháo kích. Cô bị bắt nhốt trên thuyền còn chú Sáu Hoảnh nằm im chịu đói suốt hai ngày. Sang ngày thứ ba, cô cùng với nhiều người dân bị bắt làm công tác địch vận, “Mấy anh là lính, nếu lỡ tử trận thì còn được chính phủ trả tiền, vợ con còn nhờ. Còn tụi tui là dân, nếu chết thì khổ bố mẹ lắm”. Vừa sợ pháo kích, vừa nghe lời thiệt hơn, bọn lính bỏ đồn rút chạy. Hai chú cháu an toàn đến nơi mặc dù bụng đói rã rời. Một cô gái Nam bộ bình thường sống trên sông nước, nhưng Trương Thị Mỹ đã làm nên những chuyện phi thường khi dọc ngang trên sông nước vận chuyển những thứ hàng hóa nguy hiểm đặc biệt làm nên một huyền thoại cho con người và đất Cà Mau. Khi được hỏi về sự gan dạ phi thường ngày đó, cô chỉ tâm sự nhẹ nhàng: “Khi đó lòng yêu nước, ước muốn được thống nhất nước nhà trở thành một mục đích, một kim chỉ nam không chỉ cho riêng mình mà cho tất cả người dân Nam Bộ. Và có một điều may mắn hơn, đó là mình có bà con. Đã không ít lần, bà con cứu mình thoát khỏi cái chết qua gang tấc”.

Bông hoa đẹp lung linh trong cuộc sống đời thường
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nộng dân nghèo yêu nước ở miệt Cái Nước, Cà Mau không chỉ tham gia cách mạng khi còn rất nhỏ, Trương Thị Mỹ còn vận động cả nhà đi làm cách mạng theo cách rất riêng của người dân sông nước. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cô đã hoàn thành sứ mệnh của mình với hàng trăm chuyến thuyền ghe đi lại, chở hàng trăm tấn vũ khí và bộ đội, cán bộ, tiền bạc cho bộ đội ở các chiến trường Tây Nam Bộ một cách an toàn tuyệt đối nhờ mưu trí, gan dạ, bình tĩnh và nhan sắc trời cho đẹp như một hoa khôi của xứ Cà Mau trong thời chiến tranh. Năm 1976, Trương Thị Mỹ được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1982, cô chuyển ngành từ Cục Hậu cần Quân khu 9 sang làm cán bộ Phòng Phong trào Công an Cần Thơ. Năm 2009, cô về nghỉ hưu với cấp bậc Đại tá.

Khi viết những dòng chữ về người nữ anh hùng lặng lẽ giữa đời thường, chợt nhớ đến đức tính giản dị, khiêm nhường chưa bao giờ cô tự nhận mình là anh hùng. Cô quan niệm rằng, những ai lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt như vậy, chỉ cần có lòng yêu nước là có thể làm nên những thành tích như cô đã làm vì không thể có sự lựa chọn nào khác. Càng đáng kính hơn khi nhớ về tuổi thơ của cô, năm 13 tuổi đã đứng vào hàng ngũ của Đoàn thanh niên cộng sản, 15 tuổi đã hóa thân vào vai con gái thương hồ để vận chuyển vũ khí. Chiến tranh khốc liệt, đau thương dâng ngập đất trời thì lấy đâu ra khung trời tuổi thơ, lấy đâu ra cuộc sống bình yên để ngày hai buổi cắp sách đến trường.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cô là một trong những học viên học bình dân học vụ tại nơi công tác ở căn cứ Đồng Tâm, Châu Thành, Tiền Giang thuộc Quân khu 9 (ngày nay là xã Bình Đức, Châu Thành). Chính vì thế, bài thơ Đi học của nữ sĩ Anh Thơ vẫn còn nguyên giá trị, càng trở nên thấm thía, sâu sắc ý nghĩa hơn với những người anh hùng thời đại cô sống: thời đại Hồ Chí Minh, thời chống Mỹ cứu nước thắng lợi vẻ vang bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30-4-1975.

Chồng của cô là một cán bộ an ninh Công an TP Cần Thơ nên rất cảm thông và chia sẻ những buồn vui, công việc và cuộc sống. Hai ông bà sống tại một con hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, Phường Trà An, Quận Bình Thủy, TP Cần Thơ. Ba người con đã nối tiếp truyền thống gia đình đang làm việc trong lực lượng Công an, Quân đội. Đã vào tuổi lục tuần, nhưng cô vẫn còn lung linh vẻ đẹp thời con gái. Một thời hoa lửa đẹp nhất và huyền thoại nhất cuộc đời. Thời mà bọn lính Sài Gòn, những người dân Cà Mau thường gọi ví von cô là “Mỹ nhân ngư Việt cộng”. Nhưng khi hỏi về chuyện này, cô chỉ cười rất hiền lành, phúc hậu cho biết “Tại mọi người hay nói như vậy, chớ hồi mới tham gia cách mạng mình ốm nhách, nhỏ xíu hà”.

Theo Hoàng Đức Tâm

Nguồn tin: nguyentandung.org


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 CHÚNG TÔI TRÊN GOOGLE+

 THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

 TIN TỪ DIỄN ĐÀN

  Cung cấp mẫu bàn thờ gia tiên đẹp hiện đại cho gia đình

  • Bởi: sonle3010
  • 01/03/2017
  • Đã xem: 5
Thờ cúng tổ tiên, thần phật là phong tục tập quán lâu đời, và là nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của dân tộc ta mà không nơi nào có được, thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống quý báu uống...

  Tìm nguồn gốc họ trương bá

  • Bởi: 1234567
  • 29/08/2016
  • Đã xem: 364
Mọi người cho hỏi Nguồn gốc họ Trương bá ở đâu a. Cụ tổ họ trương bá ở đâu a. BS Trương bá Quân Dt 0904051567 DÒNG HỌ TRƯƠNG BÁ (LÀNG THỊNH MỸ, XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) (BS.CKII....

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập64
  • Hôm nay658
  • Tháng hiện tại168,120
  • Tổng lượt truy cập6,362,960
Quảng cáo Google
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây