Ký ức làng qua những sắc phong xưa...

Thứ tư - 16/12/2015 04:32
Ai đó đã từng ví von, một trong những "báu vật" quý giá nhất của làng, xã, dòng họ chính là các đạo sắc phong xưa. Bởi, chúng không chỉ đơn thuần là "bằng khen", "tấm huân chương" của làng, xã hay cá nhân, dòng họ, mà sâu xa hơn, mỗi tấm sắc phong được bảo tồn, lưu giữ nâng niu, trân trọng qua từng thế hệ, chính bởi phần giá trị truyền thống, hồn cốt tinh thần vẹn nguyên qua những biến động của thời gian.
Sắc phong của vua Quang Trung cho Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn
Sắc phong của vua Quang Trung cho Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, sắc phong truyền tải lại cho hậu thế các tư liệu quý giá và trung thực nhất về tên, tuổi, công lao của một số nhân vật lịch sử, như: quê quán, công trạng, xếp hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng tôn thần), biểu thị sự tôn vinh của vương triều và cộng đồng cư dân với vị thần đó. Sắc phong cung cấp những thông tin quý giá, bổ sung thêm lịch sử và là một nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu các tín ngưỡng văn hóa dân gian. Có hai loại sắc phong thường gặp là sắc phong chức tước và sắc phong thần.

Nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Văn Tăng chia sẻ, với 410 năm hình thành và phát triển, hầu như huyện, xã nào của Quảng Bình cũng được vinh dự ban tặng các sắc phong qua từng thời đại phong kiến. Trong đó, nhiều nhất là những vùng quê ở huyện Quảng Trạch, thị xã Ba Đồn, Tuyên Hóa... Không ít trong số đó vẫn tồn tại đến tận bây giờ, “thi gan cùng tuế nguyệt” và thực sự trở thành “tài sản quý” của làng, xã, dòng họ, được trao truyền, gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Theo nhà nghiên cứu Hán-Nôm Trương Quang Phúc, một trong những sắc phong có giá trị nhất của Quảng Bình chính là sắc phong thần của vua Quang Trung đối với Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện vẫn được dòng họ Trương ở Minh Lệ (Quảng Minh, thị xã Ba Đồn) lưu giữ nguyên vẹn. Viện nghiên cứu Hán-Nôm rất đề cao giá trị và ý nghĩa lịch sử của sắc phong này, bởi các dấu tích của triều đại Tây Sơn, đặc biệt là sắc phong, bút tích... ở nước ta, khá hiếm hoi do nhiều lý do khách quan của lịch sử.

Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, thị xã Ba Đồn), hậu duệ đời thứ 17 của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn (Trương Đức Trọng), chậm rãi lần giở cho chúng tôi xem bản sắc phong có tuổi đời hơn 200 năm này. Trên nền giấy sắc tuy đã mục nát theo thời gian, nhưng các hoa văn và chữ vẫn rõ ràng, tươi rói, đặc biệt, dấu triện của vua Quang Trung còn rất rõ nét.

Theo gia phả của dòng họ Trương Công ở làng Minh Lệ, Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn là con trai thứ hai của ông Trương Công Lang-một vị tướng tài của Lê Lợi. Khi Lê Lợi tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Minh, thì ở phía Nam, quân Chiêm Thành (còn gọi là giặc Lồi) thừa cơ quấy nhiễu, cướp phá vùng biên giới, Trương Công Lang được Lê Lợi tin cậy sai đem quân vào Nam trấn thủ. Nối nghiệp cha, ông Trương Công Trấn đã lập nhiều chiến công hiển hách trong cuộc chiến chống quân Chiêm Thành. Năm 1493, trong trận chiến khốc liệt ở Thành Lồi (nay thuộc xã Hạ Trạch, Bố Trạch), ông bị trọng thương, phi ngựa về đến quê nhà ở làng Minh Lệ thì tạ thế vào ngày 24 tháng 4 năm Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24. Vua Lê Thánh Tông và triều đình vô cùng thương tiếc đã sắc phong cho ông làm Thượng đẳng thần, Thành hoàng làng và cho lập đền thờ.

Theo ông Trương Minh Đức, tương truyền, ngài cùng 3 họ Nguyễn, Hoàng, Trần đã chiêu dân khai phá đầm lầy, sáng lập ra xã Thị Lệ gồm 5 thôn: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường, Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh, Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc). Trong sắc phong năm 1790, vua Quang Trung ghi nhận ông là  “người đã cần mẫn tích trữ giềng mối nên ba nên năm, sẵn sàng có ngay quân ngũ cả trăm cả nghìn, đã biết giữ oai thần võ khiến cho mọi rợ nước ngoài sợ hãi; đã có công cao trong binh nghiệp mà vẫn giữ được hào khí trung trinh, đặc tính cần mẫn tỏ rõ đức độ của người rạng rỡ sâu xa; đã linh thông thống lĩnh quân dân phù hộ bao trùm tại địa phương do người được nhà vua sai khiến cai quản”. Lăng mộ và nhà thờ Trung lang Thượng tướng quân vẫn sừng sững đến tận bây giờ. Dân hai xã Quảng Minh, Quảng Hoà vẫn còn lưu truyền câu ca: “Mồng một xủi mả Tổng lang, Mồng hai xủi mả cả làng nhà ta”.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, hậu duệ các đời của dòng họ Trương ở Minh Lệ vẫn nỗ lực lưu giữ tấm sắc phong, cùng lăng mộ và nhà thờ của ông, như một sự tri ân nghiêm cẩn của hậu thế với công lao, đức độ to lớn của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn.

Nằm cách làng Minh Lệ chỉ vài kilômét, đình Hòa Ninh (Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn), ngôi đình được xây dựng từ đời vua Bảo Đại thứ 11 (1936), là một trong những đình làng hiếm hoi vẫn còn lưu giữ hơn 10 sắc phong của triều đình nhà Nguyễn. Theo ông Đoàn Tiến Lực (80 tuổi, Vĩnh Phú, Quảng Hòa), người dành nhiều thời gian nghiên cứu về các đạo sắc phong “báu vật của làng”, làng Hòa Ninh xưa có cả thảy 13 sắc phong, nhưng hiện chỉ giữ được 11 sắc phong, trong đó, chỉ đọc và dịch được 10 sắc phong.

Các sắc phong cùng đình Hòa Ninh là biểu tượng cho truyền thống hiếu học với nhiều nhân tài đỗ đạt khoa bảng của vùng quê ven bờ sông Gianh lịch sử này. Khoảng trên dưới chục năm nay, những sắc phong được chuyển dời từ đình Hòa Ninh sang bảo quản tại phòng Văn hóa-Xã hội của UBND xã Quảng Hòa. Trong một ống tre nhỏ, vẻn vẹn 11 đạo sắc phong được bày ra trước mắt vàng ánh cả một góc phòng. Bên cạnh một vài sắc phong còn nguyên lành, không ít sắc phong đã bị rách mục, màu mực và giấy đã ngả màu thời gian.
Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, TX.Ba Đồn, Quảng Bình
Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, TX.Ba Đồn, Quảng Bình), hậu duệ đời thứ 17 của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện giữ sắc phong hơn 200 năm tuổi của vua Quang Trung

Các đạo sắc phong của vua Tự Đức năm 1852 và năm 1874, vua Đồng Khánh năm 1887 phong thần cho thành hoàng làng. Vua Thành Thái, vua Duy Tân, vua Khải Định cũng nhiều sắc phong cho những người con ưu tú, có nhiều công lao cho làng nước thành “Trung đẳng thần”, “Thượng đẳng thần”. Riêng vua Khải Định đã bốn lần cấp sắc phong cho làng Hòa Ninh, trong đó, nổi bật với sắc phong cho vị tiến sĩ Nguyễn Sum nổi tiếng “thanh liêm chính trực’, có công vệ quốc, an dân và sắc phong cho ông Tùng Giang Văn Trung là “Trung đẳng thần là Thành hoàng làng”.

Điều kỳ lạ là vùng đất Quảng Bình còn sản sinh những nhân vật kiệt xuất, để tài đức, công thần của họ vẫn còn lưu giữ qua nhiều triều đại phong kiến, cho dù các triều đại đó có đối địch nhau như thế nào. Thành hoàng làng Tiên Lệ Đoàn Đức Mậu (Quảng Tiên, thị xã Ba Đồn) là một trong những người con ưu tú đó. Theo gia phả dòng họ Đoàn làng Tiên Lệ, ông Đoàn Đức Mậu là con thứ hai của Quản Giáp Nghi Trung Bá. Thuở nhỏ, ông rèn luyện võ nghệ, tuổi nhỏ tài cao, có tài bơi lội hơn người.

Dưới thời vua Lê Trung Tông, với diện mạo khôi ngô, thân tài hùng dũng, ba quân không đối địch được, ông đã hộ giá đánh tan quân Mạc, được phong là An Cảo Bá, giữ chức Phủ vệ hầu, sau đó, ông tiếp tục được phong làm Hậu nội thủy cơ-Phó tướng lãnh đô đốc phủ-Tả đô đốc Lập quận công. Dưới thời vua Lê Thế Tông, ông lập công lớn được phong “Thái tử Thái bảo”, lấy tước quan văn phong cho quan võ để thấy được công lao to lớn của ông với triều đình, với dân với nước.

Ông qua đời ngày 16 tháng 8 năm Tân Sửu (1601) trong niềm tiếc thương vô hạn của vua Lê Kính Tông. Vua đã sắc phong cho ông là “Bản cảnh thành hoàng đại vương, quảng hậu chính trực, hữu thiện đông ngưng, dục bảo trung hưng, lệ phong đăng trật tôn thần”. Đến đời nhà Nguyễn, cảm phục trước người con kiệt xuất của làng Tiên Lệ, vua Tự Đức và vua Khải Định đều có sắc phong cho ông. Ông Đoàn Như Kiệt (80 tuổi, Quảng Tiên), hậu duệ của dòng họ Đoàn ở làng Tiên Lệ, hiện đang lưu giữ nguyên vẹn hai đạo sắc phong của nhà Nguyễn, còn đạo sắc phong của nhà Lê nay đã thất truyền.

Những câu chuyện ly kỳ về các sắc phong ở Quảng Bình có lẽ sẽ còn nối dài mãi, đó là các sắc phong của vua triều Nguyễn cho một người không phải là quan lại, nhưng có công khai phá ruộng nương, gây dựng xóm làng thành “Thượng đẳng thần” độc nhất vô nhị ở làng Lệ Sơn (Văn Hóa, Tuyên Hóa); hay 8 sắc phong của vua triều Nguyễn cho Tuần vũ Lê Di (Văn Hóa, Tuyên Hóa)...

Chúng là minh chứng cho bề dày trầm tích lịch sự, văn hóa giàu truyền thống của vùng đất nắng cháy miền Trung này. Những sắc phong quý giá tiếp tục được bảo tồn qua các dòng họ, làng, xã, nơi chúng được sinh ra, nhưng vẫn luôn chờ đợi các cuộc khám phá sâu rộng hơn của đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, để từ đó, nhiều phát kiến, giá trị mới sẽ được khơi mở, làm giàu thêm truyền thống tốt đẹp của mỗi một làng quê.
Theo: Mai Nhân

Nguồn tin: QBĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập45
  • Hôm nay4,323
  • Tháng hiện tại136,515
  • Tổng lượt truy cập6,521,717

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây