Họ Trương Mỹ Khê và những ngôi mộ thiêng

Thứ sáu - 18/12/2015 22:32
Ở nước ta có rất nhiều dòng họ, riêng dòng họ Trương là một dòng họ lâu đời, có số lượng con cháu rất đông. Chỉ kể gốc ở Quảng Ngãi đời thứ nhất Trương Đăng Nhứt thì đến nay đã có 16 đời hơn 6.000 người, nếu kể luôn gốc Trương ở Thạch Hà, Hà Tĩnh thì số lượng người sẽ hơn mấy chục lần đó nữa.
Trương tộc Đại tôn Từ đường - Họ Trương Mỹ Khê
Trương tộc Đại tôn Từ đường - Họ Trương Mỹ Khê
Vốn từ trước là dòng họ Trương Đăng nhưng đến đời vua Kiến Phúc tên là Ưng Đăng, vì kị húy, từ 1884 tộc Trương Đăng đổi thành Trương Quang. Chỉ riêng về gia phả, ngôi mộ và các tấm văn bia của dòng họ cũng giúp ích rất nhiều cho các nhà gia phả học và văn bia học, địa lí học nghiên cứu.

Dòng họ Trương ở Mỹ Khê
Họ Trương Đăng xuất phát từ Hà Thanh thuộc xã Thạch Long huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, vào định cư tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi cách nay 395 năm. Trải qua 395 năm truyền được 16 đời. Hơn 6.000 người ở khắp nơi trong nước và trên thế giới. Sản sinh ra nhiều người con ưu tú đóng góp cho đất nước như thời Tây Sơn có Đô Đốc Tú Đức Hầu Trương Đăng Đồ, Tri Phủ Trương Đăng Phác… Thời nhà Nguyễn có Thái sư Tuy Thạnh Quận công Trương Đăng Quế, Đông các Đại học sĩ Trương Quang Đản… Thời cách mạng có Trương Quang Thống đại đội trưởng du kích Ba Tơ, Trương Quang Trọng, sinh viên y khoa, Bí thư tỉnh bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội bị bắt và hi sinh trong cuộc đấu tranh lưu huyết ở nhà ngục KonTum tháng 7 năm 1931. Trương Quang Giao lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, Bí thư khu ủy khu V, Phó Ban Thống Nhất Trung ương, Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng…
 
Dòng họ được ghi chép đầy đủ trong gia phả cổ bằng Hán tự khắc gỗ (mộc bản). Đầu thế kỷ XX gia phả được trùng tu viết tay chữ Hán Nôm gồm 5 cuốn với 518 trang giấy cỡ 15x23cm. Do cử nhân hàm Thị giảng Học sĩ Trương Quang Phùng (đời thứ 9) làm chủ biên. Bộ gia phả hoàn thành cuối triều Khải Định năm thứ 10 (Ất sửu 1926). Nội dung bộ gia phả viết từ năm vị Tổ thứ nhất Trương Đăng Nhứt vào Nam năm Quí hợi 1623 niên hiệu Vĩnh Tộ, Lê Thần Tông đến năm 1926 cộng 303 năm gồm 11 đời kế tiếp. Đến năm 1970 Gia phả được dich ra chữ quốc ngữ bởi nhà giáo Trương Quang Văn và Tri huyện Đỗ Linh… Đến năm 1984, kĩ sư Trương Quang Phương (đời thứ 11) dựa vào bộ gia phả đã được dịch ra chữ quốc ngữ, viết thành một bộ gia phả mới trình bày theo mã số. Năm 2003 Trương Quang Nhàn tốt nghiệp ĐHSP Sài Gòn 1962 kế thừa các bộ gia phả trước đó, viết thành bộ gia phả qui mô và hiện đại theo cách viết trang web.
 
Về những ngôi mộ của Họ Trương Mỹ Khê
1. Mộ Trương Đăng Nhứt (còn gọi mộ Thủy tổ hay mộ Bàu Cò):
 
Mộ Thủy tổ Trương Đăng Nhứt - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
Mộ Thủy tổ Trương Đăng Nhứt - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc

Hai vợ chồng Trương Đăng Nhứt cùng với những người họ Phạm , họ Võ … là những người đầu tiên rời xã Thạch Long Thạch Hà, Hà Tĩnh vào định cư ở xã Tịnh Khê huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1623. Hai ông bà sinh được một người con trai tên Trương Đăng Trưởng (1623-1679). Cuối đời ông Trương Đăng Nhứt mất. Gia đình đào huyệt định táng ở cánh đồng bên kia của bàu ruộng. Nhưng tối trước ngày táng, người con trai ngủ thấy chiêm bao có một cụ già râu trắng tóc bạc chống gậy dặn: “Ngày mai trên đường đi đến huyệt mả, nếu đứt dây ở đâu táng ở đó. Chôn chỗ này, ngày sau con cháu thịnh vượng” nói rồi biến mất.
 
Quả hôm sau lúc khiêng quan tài đi ngang bàu ruộng nước xâm xấp thì bỗng đứt dây. Nhớ lại điềm chiêm bao, người con trai quyết định chôn cha ngay tại đó. Đây là vùng trũng bàu ruộng ngập nước nhưng từ khi có mộ, đất tự nhiên cứ bồi nâng lên, rồi cò khắp nơi bay về đậu. Từ đó mộ có tên là mộ Bàu Cò. Ngôi mộ được trùng tu nhiều lần, hai lần gần đây là 1960 và 2003. Hàng năm dòng họ giỗ 13,14,15 tháng hai âm lịch con cháu khắp nơi dự và viếng mộ Tổ. Việc linh ứng này được thể hiện từ chỗ chỉ có hai vợ chồng mà nay đã truyền được 16 đời và hơn 6.000 con người. Ở mỗi đời, có nhiều người đỗ đạt và làm quan to.
 
2. Mộ ông Trương Đăng Hưng (còn gọi là mộ Báo ân hay mộ Lùm).
 
Mộ Lùm - Mộ cụ Đệ II thế tổ Trương Đăng Hưng - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
Mộ Lùm - Mộ cụ Đệ II thế tổ Trương Đăng Hưng - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
 
Ông Trương Đăng Hưng(1650-1720) đời thứ ba là con ông Trương Đăng Trưởng và là cháu nội ông Trương Đăng Nhứt làm quan chức Cai Hiệp, khi về hưu trí được phong tước Huy Đức Tử. Theo gia phả kể lại trong vườn nhà ông có một cây cổ thụ bị gió bão đánh bật gốc. Ông phát hiện dưới gốc cây có một chum vàng. Ông đem vào nhà đào lỗ chôn.
 
Mười năm sau bỗng có người Tàu lạ từ xa đến vườn ông tìm kiếm nhiều lần. Thấy lạ ông hỏi, người khách bèn trình bày sự thật và đưa tờ chúc thư có vẽ bản đồ kho báu của ông bà họ để lại cho ông xem. Sau khi xem xong, ông nói: “việc này quả có”. Rồi dẫn người Tàu ấy vào nhà mình chỉ nơi chôn cất vàng. Sau khi đào lên thấy chum vàng vẫn còn dấu niêm, mở ra đếm thấy đủ số như trong tờ chúc thư ghi. Người khách Tàu quá khâm phục đề nghị tặng ông một nửa số vàng nhưng ông nhất mực từ chối. Ông nói: “Đây là của cải của ông bà quí ông, lão phu không lấy làm gì.” Nói sao ông cũng không nhận. Người khách Tàu bèn làm mâm cỗ cúng heo quay tạ ông bà mình và thết đãi người chủ nhà. Phát hiện trong bụng heo quay và nhân bánh tét có vàng, ông Hưng bèn trả lại. Người khách Tàu phải than: “Ông Phước Thọ này, tuy nghèo được nghìn vàng mà không đem dùng, nay tặng cũng không nhận, cái thạnh tình này, nghìn năm chỉ có một”. Xong xuôi xin cáo biệt về nước.
 
Ba năm sau người này trở lại, dẫn theo một thầy địa lí danh tiếng người Tàu đến thăm và đề nghị tặng một huyệt mộ đặc biệt để báo ân ông. Thầy Tàu tìm ra được một huyệt mộ và hết sức trầm trồ ngạc nhiên phán rằng: “Giai thành thông thông, thế xuất hầu công” (Ngôi mộ này đẹp đời đời có công hầu). Đến ngày mùng 3 tháng 1 âm lịch năm Kỉ dậu 1729, ông mất và được chôn cất ở huyệt này. Đó là ngôi mộ Lùm còn gọi là mộ Báo ân hiện ở Gò Ra, Trà Sơn, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Trước đây, nơi này cũng là một thắng cảnh ở trong vùng. Cây cối mọc chung quanh ngôi mộ cứ mọc cong ra làm thành một bức tường tự nhiên rất đẹp và mộ luôn sạch sẽ.
 
3. Mộ ông Tú Đức Hầu Trương Đăng Đồ đời thứ sáu
 
Lúc nhỏ ông Trương Đăng Đồ ra học ở kinh đô Huế. Nhờ nổi tiếng hay chữ và võ giỏi được nhà Tây Sơn trọng dụng phong chức Đô Đốc và tước Hầu: Tú Đức Hầu. Tháng 6 năm Nhâm Tuất 1802, ông phò vua Quang Toản và Quang Thùy chạy ra Bắc cầu viện. Tại Sơn Tây bị quân nhà Nguyễn bao vây quá ngặt, không chịu để quân Nguyễn bắt giết, ông nói với với vợ là bà Nguyễn Thị Dung, một trong “ngũ phụng thư” của nhà Tây Sơn: “Phận tôi đáng chết, còn bà nên về Nam” Bà khẳng khái nói: “Bề tôi chết vì vua, vợ lại không được chết vì chồng hay sao?”. Ông bà đã tuẫn tiết bằng gươm. Đó là ngày 21 tháng 6 âm lịch. Người đời thương tiếc là bậc trung nghĩa nên đã chôn cất tử tế ở tỉnh Sơn Tây. Về sau Thái sư Trương Đăng Quế cháu gọi Trương Đăng Đồ bằng chú ruột đã đưa hài cốt ông bà về cải táng tại xã Tinh Khê Sơn Tịnh Quảng Ngãi. Ngôi mộ đã được trùng tu năm 2013. Trong khi trùng tu một người cháu trong họ tên là Trương Quang Huệ (đời thứ XIII) vái xin ông để được lấy một mảnh xương về thờ và sau này có dịp thử ADN tìm cho ra hậu duệ cho ông. Vì đây đó có giả thuyết cho rằng Trương Cầm thân phụ của Bình Tây Nguyên Soái Trương Định là con của Trương Đăng Đồ.
 
4. Mộ ông Trương Đăng Phác (1758-1801)
 
Mộ ông Trương Đăng Phác (1758-1801) - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
Mộ ông Trương Đăng Phác (1758-1801) - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
 
Ông là anh ruột của Trương Đăng Đồ và là thân phụ của Thái Sư Tuy Thạnh Quận Công Trương Đăng Quế. Nổi tiếng là người ham đọc sách và có kiến thức rộng được nhà Tây Sơn trọng dụng cử chức tri huyện Mộ Hoa (Mộ Đức) sau thăng lên chức Hữu Tuyên Vũ tức Tri Phủ tỉnh Quảng Ngãi. Nhà Tây Sơn sụp đổ ông mất đột ngột, tương truyền là tự tử để giữ lòng trung “trung thần bất sự nhị quân” (người trung thần không thờ hai chúa) lúc mới 44 tuổi. Mộ táng tại xã Tịnh Khê. Đặc biệt trong quần thể hai ngôi mộ của ông bà có hai tấm văn bia của Thái Sư Trương Đăng Quế, một viết dựng cho cha, một viết dựng cho mẹ lời lẽ chân thành xúc động. (xem phụ lục 1,2).
 
5.  Mộ ông Trương Đăng Quế (1793-1865)
 
Mộ ông Trương Đăng Quế - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
Mộ ông Trương Đăng Quế - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc

Năm 1819 ông thi đỗ Hương Tiến (học vị cao nhất thời Gia Long) và là người khai khoa thủ sĩ của tỉnh Quảng Ngãi. Làm quan đến nhất phẩm triều đình. Về hưu ở nhà từ đường, nhà tranh vách đất. Khi mất, triều đình bãi triều 3 ngày. Ngôi mộ được chính quyền bấy giờ xây có thành nội thành ngoại, bốn góc có bốn trụ búp sen, dưới bốn trụ ấy là bốn chum dầu phụng có tiêm bấc thắp sáng nhiều năm. Chung quanh khuôn viên mộ trồng thông. Phía trước quần thể mộ là một nhà bia bằng đá non nước ở Thanh Hóa, văn bia do Tuy Lí Vương viết về Thầy của mình.
 
6. Mộ ông Trương Quang Du (1845- 1904)
 
Mộ ông Trương Quang Du (1845- 1904) - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
Mộ ông Trương Quang Du (1845- 1904) - Ảnh: Trương Đăng Gia tộc
 
Ông là con trai thứ năm của Thái sư Trương Đăng Quế. Khi còn đương chức Trương Đăng Quế không cho năm người con trai ra thi và làm quan. Khi ông mất các con mới ra thi và được bổ làm quan. Ông Trương Quang Du làm Thương Tá tỉnh vụ. Ông có ba bà vợ và toàn con gái. Ông lập đàn chẩn tế cúng chùa, từ thiện, cầu nguyện mới có được người con trai duy nhất. Trước khi mất ông đã nhờ thầy địa lí tìm huyệt mộ phát đinh tức sinh nhiều con trai. Ngôi mộ hiện nay tọa lạc gần nhà chiến tích Sơn Mỹ (Tịnh Khê). Về sau nhánh phái này sinh con cháu trai rất nhiều như người ta thường nói “con một cháu bầy”.
 
7.  Mộ ông Trương Quang Diêu (1815-1900)
 
Tri phủ Trương Đăng Phác (1758-1801) sinh 4 người con trai là Trương Đăng Sĩ, Trương Đăng Dực, Trương Đăng Quế và Trương Đăng Tưởng. Ông Trương Quang Diêu là con ông Trương Đăng Sĩ. Cha mẹ mất sớm ở với chú ruột( trọng thúc). Lớn lên ra kinh thành Huế ở với chú ruột Trương Đăng Quế (quí thúc phụ) đi học 3 năm. Về lại quê nhà lập gia đình. Sau ra Huế được chú ruột cho đi học khóa Lễ sinh để về thờ tự nhà thờ họ. Ông vừa thừa tự nhà thờ vừa biết buôn bán làm ăn. Thời ấy ông đã có đội ghe bầu gần chục chiếc và thợ thuyền gia nhân vận chuyển các sản vật của quê nhà như đường muỗng, bột huỳnh tinh… đem ra tận Nam Định rồi mua vải vóc, chén bát đĩa sành sứ ở Nam Định đem về quê bán. Thời ấy, người sống 70 tuổi rất hiếm (nhân sinh thất thập cổ lai hi). Năm 84 tuổi, Thành Thái thứ 11 (Kỉ hợi 1899) ông được tặng thưởng “Bách Tuế thọ quan”. Biết tuổi già có ngày cũng mất, ông viết sẵn cho mình một văn bia (xem phụ lục 3). Năm 2012 đi giẫy mộ, mọi người biết là mộ cổ trong họ nhưng không biết là mộ của ai. Ông Trương Quang Huệ (đời thứ XIII) vái xin, liền sau đó phát hiện ra được tấm bia viết bằng chữ Hán bị chôn vùi trong cát hơn ¾ phần. Đó là mộ phần và văn bia do chính ông viết.
 
Trương Quang Cảm
 
Phụ lục 1: Văn bia của Thái sư Trương Đăng Quế viết cho thân phụ:
 
VĂN BIA ĐỒNG ĐẾ
Từng nghe Âu Dương Vĩnh Thúc nói rằng: “Người làm điều thiện sẽ được báo, nếu chưa được báo ở đời này, thì đời sau tất có biểu hiện là lẽ thường”.
 
Tiên Khảo phủ quân húy … họ Trương “ Đăng” là chữ đệm, nhiều đời là vọng tộc ở Quảng Ngãi. Hoàng tằng tổ làm chức Câu kê ở dinh Quảng Nam, tước Thiền Đức Bá, Vinh lộc đại phu.
Tổ khảo tước Thiêm lộc tử, chức Cai hiệp dinh Quảng Nam, tặng Triều liệt đại phu, Hàn Lâm Viện thị giảng học sĩ, thụy Đoan Lượng. Tổ tỷ tặng cung nhân. Hiển khảo Tân Mỹ phủ quân tặng Trung nghị đại phu, Thái bộc tự khanh, thụy Hiến Tĩnh, hiển tỷ tặng Thục nhân. Đều được truy tặng khoảng niên hiệu Minh Mạng thứ 19 và thứ 21.
 
Tiên khảo sinh năm Mậu Dần và bị bệnh chết tại nhà vào năm Tân Dậu, hưởng linh 44 tuổi, táng ở gò Đồng Đế, xã Tư cung.
 
Quế sinh ra được 9 tuổi thì mồ côi cha. Từng nghe tổ mẫu Thục Nhân nói lại là Tiên khảo lúc ấu thời dĩnh mại, chí lượng khác người, năm 16 tuổi, Hiến Tĩnh công đem gia quyến đi tị nạn tại Phú xuân, ông ở lại trông nom vườn nhà, đến khi trở về thì thấy vườn nhà vẫn như cũ, người xem đó càng lấy làm kì. Vừa lớn lên thì chăm học, giao du rộng, những người ông giao du đều là kẻ sĩ đương thời.
 
Khi Tây Sơn xưng hiệu, ông lại vì sự tiến cử của những bạn trí thức là quan thần của Tây Sơn, lần từ chức Giáo quan đến Tri huyện, Tri phủ là quan Doãn của bổn ấp, hiệu là Triêm Ân Tử, tính tình bình dị, gần gũi nhân dân được xem là liêm thứ.
 
Khi Hoàng triều Thế tổ Cao Hoàng Đế phục quốc, quan Thượng Thư Bộ Lễ Đặng Đức Siêu là bạn cũ của ông, mới vừa tiến danh ông lên thì bỗng bị bạo bệnh mà mất.
 
Than ôi! Tiên khảo sinh không gặp thời, tuổi lại không thọ, ôm chí lớn mà mất đớn đau thay! chỉ xem bạn hữu của ông và những người kỳ lão trong ấp đến nay vẫn còn thương nhớ ông, thì cái tài học xuất chúng, cái huệ chính đối với mọi người, đã rõ ràng tưởng được vậy. Vả như, ở nhà thì hiếu thuận xuất tự thiên tính, xử sự chu đáo rõ ràng, vốn nơi tuệ chất, cái dung đức, cái thiện hạnh được ghi rành rành không thể kể hết.
 
Quế khi thiếu thời mồ côi, cùng với Bá huynh, Trọng huynh nương tựa nơi Thái phu nhân. Thái phu nhân họ Đỗ, thủ chí ở cảnh nghèo, tiết kiệm, từ ái, bà thường kể đến chí hướng, công nghiệp và phẩm hạnh của Tiên khảo để dạy chúng tôi cố gắng học hành để nối gia phong.
 
Niên hiệu Gia Long thứ 18, Quế bất tài, may đậu Hương Tiến, niên hiệu Minh Mạng nguyên niên, ứng triệu ra kinh đô. Năm thứ 3 mới được thụ Hàn Lâm Viện Biên Tu, năm thứ 4 Thái phu nhân mất, hưởng linh 59 tuổi:
 
“Đẩu thăng bất đải, phong mộc hàm bi”
 
Tiếp theo nhờ dựa nơi phúc ấm mới dần dần bước lên, mãi đến chức Thượng thư bộ binh, Hiệp biện đại học sĩ, gia Cung bảo, ban tước Tuy Thạnh Nam. Niên hiệu Thiệu Trị thứ 2, thăng Thái bảo, Văn minh điện đại học sĩ, tấn phong tước Bá. Phụng đức Kim Thượng nối ngôi, bắt đầu được cải thụ Cần chánh điện đại học sĩ, tấn phong tước Quận công.
 
Trải thờ 3 triều, nhiều lần được ân quyến, gặp lệ đại khánh của nước được khen phong tới 3 đời. Tiên khảo vì gặp loạn, thất sĩ không dự, bởi cho trọn cái tiết để khuyên lòng trung vậy.
 
Niên hiệu Tự Đức thứ 6, mùa xuân Quế khấn trước cửa khuyết trần tình mới được cho nghỉ phép về tỉnh mộ. Trong chuyến đi này, Đức Hoàng thượng mến thương cho bài thơ, lại được ban cho bạc tiền hương lụa để dùng vào việc phong sùng tế điện, đó là đặc ân vậy cho nên bài thơ có câu:
 
“Hóa hấp du phần giai tiển hiếu,
Vinh triêm tuyền nhưởng túc tăng quan”
Một chữ Đức Vua khen thật đủ để vinh hạnh muôn đời, vì thế thuật lại sự việc khắc vào đá, dựng nơi vào mộ để cho biết vậy.
 
Tiểu tử là Quế nhận sự ban cho của nhà nước, may mắn thấy cái vinh dự này, chẳng phải là từ sự tu đức, tích phúc của đời trước để phúc ấm cho đời sau thì làm sao được như thế, dám chẳng tin là sự minh nghiệm của việc làm thiện được báo sao?
 
Niên hiệu Tự Đức thứ 6, năm Quý Sửu tháng Quý Xuân, trung tuần ngày lành.
Tiểu tử: Cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần chính điện đại học sĩ, lãnh Binh Bộ thượng thư, sung Cơ mật viện đại thần, quản lý Khâm thiên giám kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, sung Kinh diên giảng quan, sung Sử quán Tổng tài, Tuy Thạnh Quận Công Quế - Kính biểu.
 
Người dịch: Long Cương Nguyễn Đức Tập.
 
Phụ lục 2: Văn bia của Thái sư Trương Đăng Quế viết cho thân mẫu:
 
VĂN BIA SA MÔN
Tiên tỷ Thái Phu Nhân, họ Đỗ quý nữ của quan Khâm sai Cai cơ húy là Văn Thùy, tuổi cặp kê thì về với Tiên phụ Triêm Ân Tử. Vốn hay về nữ huấn giữ đúng khuê nghi, thuận thờ cha mẹ chồng, hòa nhã với chị em dâu. Trong gia đình mọi người không có điều tiếng gì. Bà thường nói: “Không làm sai, không phạm lễ, không trái với chồng là điều chính yếu của đạo làm vợ”. Cho nên Tiên khảo tự coi việc dân chính, Bà chưa từng can dự việc ngoài, chỉ giúp việc trung quỹ mà thôi. Vợ chồng hòa thuận sinh con đẻ cái, hòa nhã kính trọng lẫn nhau.
 
Chẳng may Tiên khảo quyên quán trung đạo, Bà muốn giữ nghĩa đồng huyệt, Bà chẳng còn muốn sống. Nhiều người lấy điều mẹ chồng già, con còn nhỏ ra khuyên giải, Bà mới gượng dậy lo liệu việc tang. Mỗi lần tế điện sớm chiều tất tự mình làm lấy, ba năm như một ngày.
 
Phụng sự tổ mẫu Thục nhân, sáng tối thăm hỏi, giữ gìn cẩn thận, không phải việc khánh điếu, chưa từng ra khỏi ngõ.
 
Khuyên các con siêng năng học tập, không cho dự công việc ngoài làm phân tâm. Vì vậy sinh kế sa sút, nhà càng suy vi mà Thái phu nhân vẫn xem như tự nhiên. Thường gần gũi Trọng huynh, Bá huynh và Quế mà dạy rằng : “Hãy gắng mà HỌC, ấy là cái CHÍ của cha các con, nghèo là việc thường của kẻ sĩ, không phải điều đáng lo. Nếu học mà có sở đắc ở thân tâm, Hoàng thiên há phụ người học hành sao! Ta có thể yên tâm để đợi sự THNH TỰU của các con”. Anh em Quế vâng theo lời dạy của Bà, ngày đêm cố gắng, nhờ đó mà nên người, đều là cái đức của Thái phu nhân vậy.
 
Đến khi Quế thi đậu ra kinh đô làm việc, mới 3 năm được cho chức Hàn lâm viện Biên tu, năm sau Thái phu nhân bỗng bị bệnh mất. Than ôi! Sao không đợi chờ một chút vậy! Mẹ đã tựa cổng làng ngóng trông! Con ra làm quan, một lần chia tay trọn đời ly biệt, thật là trái đạo, khiến lòng Người luống mang nỗi buồn tấc cỏ khôn đền ba xuân.
 
Tiên tỷ hưởng linh 59 tuổi, táng ở gò Sa Môn xã Tư Cung, cách mộ của Tiên khảo ở Đồng Đế chừng một dặm. Đêm ngày thấm thoắt, nay đã 30 năm. Nghĩ tới công đức cù lao càng thêm đau xót. May mắn nhờ phúc dư, bước đường hanh thông làm quan dần đến Thái Bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, lĩnh Binh Bộ thượng thư, phong tước Quận Công. Nhớ lại lời dạy của Thái phu nhân ngày trước mà nay Người chưa kịp nhìn thấy để được chút an ủi vui lòng, con thật xúc động vô cùng.
 
Niên hiệu Tự Đức thứ 6, mùa xuân Quế khấn trước cửa khuyết trần tình, được nghỉ phép về quê qui tỉnh.
 
Đội ơn Đức Hoàng Thượng thân chế ngự thi ban cho, lại được ban cấp tiền bạc hương lụa để dùng vào việc tế điện phong sùng. Mặc áo cổn được Vua yêu, vẻ vang đến người chín suối, thực là nhờ ơn tích khánh để lại nên được sự đãi ngộ nồng hậu ny. Ghi chép vào gia phổ đủ để lại cho muôn đời sau biết. Đã đem ơn trời thế đức thuật đầy đủ trong bia biểu ở Đồng Đế, lại đem lời dạy của Thái phu nhân và thực hành, lần nữa khắc vào đá nơi mộ sở để ghi lại… cái tình nhớ thương cha mẹ: “Trời cao khôn cùng”.
Người dịch: Long cương Nguyễn Đức Tập.
 
Phụ lục 3: Văn bia Mộ ông Trương Quang Diêu (1815-1900)
 
Tôi bình sinh trung hậu, giữ kỹ gia phong cần mẫn khó nhọc mới có được ngày nay. Nhớ lúc nhỏ khi 6 tuổi cha mẹ mất nhờ nương tựa vào thúc phụ Bình Khê tiên sinh (chỉ Trương Đăng Dực – người dịch) cùng với thúc mẫu tận tình dưỡng dục, dạy theo đường lối phải. Lớn lên cho ra kinh thành Huế ở với quí thúc phụ (chỉ Trương Đăng Quế - người dịch) được học tập nuôi dạy nên người. Sau 3 năm vâng lệnh đem thư về trình. Trọng thúc phụ (chỉ Trương Đăng Dực) để ý chọn vợ cho. Năm 19 tuổi mới được thành hôn, hai mươi mốt tuổi ra ở riêng múa bán làm ăn. Rồi được quí thúc phụ cho ra học khóa học Lễ sinh tự thừa để hiểu rõ lễ số ngõ hầu ngày kia được sung phụng thừa trọng từ đường. Từ ấy còn chuyên học theo cách sống của Án tử (sống tiết kiệm- người dịch ) và bắt chước sự nghiệp buôn bán của Đào công, may mà trong khoảng 8,9 năm gia vận phong hanh tiền hàng dư giả cho nên nhà thờ tư thất tất cả đổi mới lợp bằng ngói lát bằng gạch cùng lúc hoàn mỹ.
 
Người dịch Long Cương Nguyễn Đức Tập

Tác giả bài viết: Trương Quang Cảm


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Trường Ngọc Thinh

      Trường Ngọc Thinh    15/12/2016 02:34
    Chào anh,
    Cảm ơn anh đã dành thời gian viết bài này. Trong bài anh có đề cập tới bộ gia phả bằng tiếng quốc ngữ có thểđọc trên mạng. Anh làm ơn chia sẽ trang dẫn.
    Chân thành cảm ơn anh.

    Trương Ngọc Thịnh

Mã bảo mật   

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 CHÚNG TÔI TRÊN GOOGLE+

 THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

 TIN TỪ DIỄN ĐÀN

  Cung cấp mẫu bàn thờ gia tiên đẹp hiện đại cho gia đình

  • Bởi: sonle3010
  • 01/03/2017
  • Đã xem: 5
Thờ cúng tổ tiên, thần phật là phong tục tập quán lâu đời, và là nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của dân tộc ta mà không nơi nào có được, thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống quý báu uống...

  Tìm nguồn gốc họ trương bá

  • Bởi: 1234567
  • 29/08/2016
  • Đã xem: 364
Mọi người cho hỏi Nguồn gốc họ Trương bá ở đâu a. Cụ tổ họ trương bá ở đâu a. BS Trương bá Quân Dt 0904051567 DÒNG HỌ TRƯƠNG BÁ (LÀNG THỊNH MỸ, XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) (BS.CKII....

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập21
  • Hôm nay1,882
  • Tháng hiện tại64,691
  • Tổng lượt truy cập6,092,068
Quảng cáo Google
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây