Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường - Người nhặt nhạnh hồn quê

Thứ tư - 01/06/2016 08:09
Mọi người đặt cho ông khá nhiều biệt danh: “Ông già đồ cổ”, “Ông già Nam bộ”, “thổ địa vùng ĐBSCL”. Không học hàm, học vị, nhưng mọi người vẫn gọi ông là: Nhà Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Nhà Sưu tầm đồ cổ, Nhà Sử học.
Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường
Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường
Ông cười buồn: Đáng tiếc là chẳng có “nhà” nào cầm cố được, bán cũng chẳng ai mua. Tôi chỉ là lão già Trương Ngọc Tường, chuyên đi nhặt nhạnh hồn quê để nghiên cứu và tìm về cội nguồn quê hương, dân tộc.

Ông khiêm tốn mà nói vậy chớ ông là người Tiền Giang từng nổi tiếng trong giới sưu tầm đồ cổ cả nước. Tự hào hơn, ông sưu tầm chỉ với mục đích để nghiên cứu chớ không vì mục đích làm giàu. Quí hiếm thay, ông còn ý tưởng nếu có điều kiện, ông sẽ hiến toàn bộ cổ vật mình sưu tập được để xây dựng một Bảo tàng nông nghiệp Nam bộ.

Căn nhà của ông ở góc đường 30-4, trên tỉnh lộ 868 thuộc thị trấn Cai Lậy, giông giống như một nhà bảo tồn, bởi chứa đựng quá nhiều đồ cổ. Quần áo treo ở ngoài, còn tủ chỉ dùng để đựng cổ vật. Từ ngoài sân vườn vô đến trong nhà; từ nhà trước xuống nhà sau, dọc hàng hiên, nơi nào cũng chất đầy cổ vật. Có cái tưởng chừng như bỏ đi lại rất quí hiếm, như “cái di” dùng để đong tiền ngày xưa chẳng hạn. Một di là nửa quan, bằng 300 đồng tiền kẽm, hoặc cái nọc cấy có lỗ đựng vôi để bôi khi bị đỉa cắn. Quí vì nó hiếm, vì nó ẩn chứa những dấu ấn lịch sử, văn hóa của hàng trăm năm về trước.

Đưa cho tôi xem bộ sưu tập bình vôi, ông giải thích: - Ẩn chứa trong những chiếc bình vôi này, cho chúng ta hiểu vì sao vùng Gia Định xưa, trong đó có Mỹ Tho được Lê Quí Đôn ghi trong Phủ biên tạp lục: “thóc nhất, cau nhì” hay “nhất thóc, nhì cau” và vì sao lại có từ “Viên lang thổ” (đất trồng cau) hoặc “Lang viên thuế” (thuế vườn cau). Theo Địa bạ Minh Mạng, tỉnh Mỹ Tho có diện tích tư điền, tư thổ là 159.832 mẫu, trong đó diện tích tư điền: 139.636 mẫu, còn diện tích tư thổ: 20.196 mẫu. Trong diện tích đất tư thổ thì đất trồng cau chiếm đến 88% (17.813 mẫu). Cau là mặt hàng nông sản xuất khẩu rất mạnh hồi đó, sau gạo. Cho nên, Trịnh Hoài Đức mới viết: “Ở Mỹ Tho, cau tươi và cau khô nhà nào cũng có, chất chứa đầy sân, đầy lẫm để bán các nơi xa gần”. Lúc bấy giờ, cau được tập trung tại chợ An Bình (Cái Bè) để xuất sang Cao Miên hay bán cho các thương buôn ở Sài Gòn, rồi sau đó họ bán cho các tàu buôn nước ngoài. Bình vôi còn phản ánh rất nhiều sắc thái, đẳng cấp trong xã hội: Bình vôi của người Chăm có hình cái tháp, giống bình vôi của người Khơmer. Bình vôi sản xuất ở Gò Sành, Bầu Trúc miền Trung cũng đem vô đây bán cách nay trên 300 năm. Những tầng lớp giàu có, quan lại sợ bị đầu độc, nên làm bình vôi bằng bạc, bằng ngọc, nếu vôi bị biến màu là biết ngay. Thời Pháp thuộc có thêm bình vôi trên chạm bạc, dưới có ngọc phiến, gắn thêm nắp đậy hoặc có những chiếc nhẫn trên làm cái ổ để bỏ vôi, khi ghiền thì vít một tí để ăn trầu”.

Rất may là hôm tôi đến, ông đang soạn cổ vật ra để cho Bảo tàng tỉnh mượn, chuẩn bị triển lãm nhân dịp tết Kỷ Sửu 2009. Vì vậy, tôi mới được ông giải thích cho tận tường, cặn kẽ gốc tích của nhiều cổ vật. Đi kèm bình vôi, bộ sưu tập thời trang cổ cũng phản chiếu lối sống và quan hệ đẳng cấp, giao lưu văn hóa thời đó. Từng chùm đồ trang sức từ chiếc nhẫn đến trâm cài đầu bằng gỗ, bằng sừng, bằng ngà voi; từ cái nón cụ của cô dâu Nam bộ đến những chiếc dù làm bằng nan tre, bên ngoài phất giấy dầu, sơn thêm một lớp quang dầu để chịu mưa, nắng và vô số nọc cấy. Tất cả những vật cổ đơn sơ, mộc mạc nhưng ẩn chứa biết bao điều của cha ông thuở đi mở cõi trên 300 năm  về trước, cứ như phảng phất đến đây.

Thế giới trên 300 năm mở cõi trong kho báu của Trương Ngọc Tường còn mở rộng không gian, thời gian qua số lượng lớn tiền cổ, văn bản cổ sưu tầm được sau hơn 20 năm miệt mài lặn lội khắp nơi. Hiện ông đang là người giữ kỷ lục với trên 100 ký tiền cổ. Ông soạn ra cho tôi xem rất nhiều loại tiền. Có đồng tiền đường kính cỡ 20cm, dầy khoảng 1cm, được đúc bằng đồng nặng cả ký lô. Tiền lớn, tiền nhỏ; tiền ta, tiền tàu, ông có cả chục loại “thông bảo” qua nhiều đời vua nhà Nguyễn. Bởi mỗi lần vua Nguyễn lên ngôi là đúc cho mình một loại tiền, gọi là “Thái bình thông bảo”. Tiền tàu của ông có niên đại từ 1.000 đến 1.500 năm về trước, do địa bàn Nam bộ không có nhiều đồng để đúc tiền, nên nhà Nguyễn cho nhập tiền Trung Quốc từ thời Tống, thời Đường về xài.

Còn văn bản cổ của ông thì không biết cơ man nào mà kể. Cổ và hiếm đến nỗi ông từng “ẵm” một lúc hai giải ba tại cuộc thi Những cuốn sách vàng lần III - 2006 với hai cuốn: Kim Vân Kiều tân truyện (bản chữ nôm) - Nguyễn Du, khắc in năm 1879 và cuốn Từ điển Việt - Pháp của Legrand de la Liraye, in năm 1874.

Không chỉ là người sưu tầm đồ cổ, ông Trương Ngọc Tường còn là một nhà nghiên cứu khá uyên bác. Học sư phạm nhưng lại nghiên cứu thêm lịch sử, công tác trong ngành Giáo dục sau lại chuyển qua công tác Tuyên giáo, nên ông có điều kiện nghiên cứu, tích lũy kiến thức. Ông từng có tên trong danh sách tác giả của hàng chục cuốn sách nghiên cứu, khảo cứu văn hóa dân gian, địa chí, lịch sử có giá trị. Vì vậy, trong cái kho tàng cổ vật nhìn thấy, vẫn không thể nào sánh được với cái kho tàng tri thức, kiến thức trong con người Trương Ngọc Tường. Ngổn ngang là vậy, hằng hà sa số là vậy, nhưng ông biết rõ từng loại cổ vật sắp xếp ở đâu và nói vanh vách công dụng, ứng dụng, niên đại, cội nguồn của từng cổ vật cùng với những vấn đề liên quan đến lịch sử, đời sống văn hóa, tinh thần của con người qua từng thời đại xuất hiện cổ vật.

Cho tôi xem hàng chục loại dụng cụ đo lường thời xưa như: thước đo ruộng (quan điền xích), thước đo vải (quan phùng xích), thước đo gỗ (quan mộc xích) là các loại thước do triều đình nhà Nguyễn ban hành đều có chữ “quan” và các loại cân: cân tiểu ly dùng để cân vàng, cân thuốc bắc; các loại cân dùng để cân đường, cân bột, cân heo, có cân chuyên dùng để cân sắt, ông hóm hỉnh nói: - Chỉ cần nghiên cứu kỹ các loại thước, các loại cân mới thấy hồi xưa đã từng có gian thương, bởi so sánh thấy thước có cái dài, cái ngắn; cân có cái già, cái non.

Thấy ông vui, tôi bất chợt hỏi: - Trong cái kho tàng đồ sộ này, cổ vật nào ông quí nhất!?
Không cần suy nghĩ, ông trả lời tắp lự, gọn lỏn: - Cổ!
- Tất nhiên là cổ rồi, nhưng là  cổ vật nào mới được chứ? Tôi thấy cần hỏi cho rõ lại.

Ông cười mím chi: - Cổ chứ còn cổ nào nữa.
Vừa lúc bà Sáu từ dưới nhà đi lên, ông đưa mắt âu yếm bà rồi tằng hắng nói với tôi, nhưng cốt chỉ để bà Sáu nghe:
- Qua quí nhứt là cổ. Bởi cổ lo cho qua từng li từng tí, từ miếng ăn đến giấc ngủ. Qua lang thang tìm kiếm cổ vật, cổ chẳng phiền hà chi lại còn tiện tằn để cho qua có tiền mà đi săn lùng. Không có cổ, thì qua cũng không có được cái kho tàng đồ cổ này. Vì vậy, qua quí nhứt là cổ.
Theo Đậu Viết Hương

Nguồn tin: vannghetiengiang.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập29
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm26
  • Hôm nay3,993
  • Tháng hiện tại150,413
  • Tổng lượt truy cập6,970,266

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây