Những Vị Tướng Họ Trương của Hai Bà Trưng

Giai đoạn từ Thời kỳ Hồng Bàng đến trước thời nhà Lý
Trả lời
Trương Văn Ngọc
Quản lý Nội dung
Quản lý Nội dung
Bài viết: 74
Ngày tham gia: T.Năm Tháng 1 17, 2013 12:11 pm
Họ tên đầy đủ: Trương Văn Ngọc
Địa chỉ: 243/11 Tôn Thất Thuyết, P3, Q4, Tp/HCM
Họ Trương quê gốc ở: Làng Mỹ Cựu, Xã Duy An, Huyện Duy xuyên, Tỉnh Quảng nam.
Điện thoại: 0938205988
Yahoo: VN Ngoc
Đến từ: T/p Hồ Chí Minh

Những Vị Tướng Họ Trương của Hai Bà Trưng

Gửi bài gửi bởi Trương Văn Ngọc » T.Bảy Tháng 5 11, 2013 2:51 pm


TỈNH HƯNG YÊN - THỊ XÃ HƯNG YÊN


TRẦN LỮU

Thôn Đào Đặng, xã Trung Nghĩa, thị xã Hưng Yên thờ Trần Lữu, người đã phù Hai Bà Trưng đánh giặc.

Ông có bảy người con, đều có sức khỏe hơn người, thạo võ nghệ, giỏi văn chương. Nghe tin Hai Bà dấy binh ở Hát Giang, cha con ông Trần Lữu đến bái yết xin được đi đuổi giặc. Đuổi xong Tô Định, tám cha con đều được phong là đại tướng và về lập doanh trại ở bản quán. Sau này tất cả đều hi sinh ở Cấm Khê.

TRẦN MÃ CHÂU

Thôn Bảo Châu, xã Quảng Châu thị xã Hưng Yên thờ bà Trần Mã Châu, nữ tướng của Hai Bà Trưng. Cô là con bộ chủ Trần Thành và bà Trương Thị Hoan, vốn quê ở huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên, châu Ái. Cô mồ côi mẹ khi chưa đầy một tuổi, được bà nhũ mẫu là Sơn Lạc nuôi dưỡng. Đến tuổi trưởng thành theo học Lý tiên sinh.

Thuở đó, ông Trần Thành là bộ chủ huyện Nam Xương, đã cùng ông Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc khởi binh chống Tô Định song cả hai đều bị giặc Tô giết hại. Mã Châu căm hờn, cắt tóc cải trang làm ni cô đến chùa Bảo Châu trụ trì. Cô ngầm chiêu tập binh mã. Gái trai khoảng hai trăm người đến xin làm gia thần, luyện tập binh pháp tinh nhuệ. Kịp khi Bà Trưng khởi nghĩa, Mã Châu liền đem gia thần nhập vào đại binh của Bà Trưng. Sau nhiều trận, Tô Định đại bại phải bỏ trốn.

Ba năm sau, Mã Viện kéo quân sang. Trong một trận đánh không ngang sức, Mã Châu một mình một ngựa phá vòng vây chạy về đến Bảo Châu thì hóa. Nhân dân thương tiếc lập đền thờ.

VŨ THỊ THỤC

Đền Tân La, thuộc xã Bảo Khê, thị xã Hưng Yên, thờ bà Vũ Thị Thục, là một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Tương truyền khu vực đền là nơi bà đóng quân. Nơi đây đã diễn ra trận thứ bảy trong tám trận mà nghĩa quân Hai Bà Trưng giao chiến với quân Mã Viện. Bà đã hi sinh tại trận tiền.

Thực ra bà Vũ Thị Thục được thờ chính ở quê là làng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và đặc biệt là ở làng Tiên La, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, đền miếu hoành tráng, tương truyền là địa bàn chiến đấu chính của bà và thánh hiệu của bà là Bát Nàn công chúa.

Có thể ở Bảo Khê, Hưng Yên là nơi bà có đóng trại một thời gian, có xảy ra chiến sự.

TRẦN XUÂN HỒITRẦN HỮU THIỆN

Thôn Đặng Cầu, xã Trung Nghĩa, thị xã Hưng Yên có hai ngôi đền thờ hai vị tướng của Hai Bà Trưng. Đền Cây Đa thờ ông Trần Xuân Hồi và đền Đức Đại Vương thờ ông Trần Hữu Thiện. Chưa rõ sự tích.
[chuongxedap]

HUYỆN ÂN THI

QUÁCH NGỌC CHI VÀ HAI NGUỜI CON:

Ở Thôn Nhân Vũ, xã Nguyễn Trãi, huyện Ân Thi thờ bà Ngọc Chi và hai người con cùng tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Bà là con gái ông Quách Đình Hổ, làm tri phủ Thiên Thi. Chồng bà là ông Hoàng Văn Ân quê ở Hoan Châu. Một thời gian, ông Hổ già yếu nhường quyền cho vợ chồng Ngọc Chi. Họ sinh được hai trai là Hoàng Văn Miệng và Hoàng Văn Long, thông minh tài bộ, học văn học võ tinh thông. Khi hai người con đến tuổi 14, 15 thì cha chết. Cũng lúc đó Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Phong Châu. Ngọc Chi và hai con chiêu tập được sáu nghìn quân, đến bái yết Hai Bà Trưng. Sau đó họ theo Hai Bà đi đánh 65 thành. Đất nước thanh bình chưa lâu thì Mã Viện sang xâm lược. Trong trận đánh ở Hát Môn, hai chàng Miệng và Long đều hi sinh. Bà Ngọc Chi trở về quê nhà rồi cũng từ trần.

TÍN YẾT

Thôn Tiêu Kiều, xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi thờ ông Tín Yết. Nguyên thân mẫu chàng là bà Phương Dung đi tắm ở đầm rồi về mang thai sinh hạ ra chàng. Tín Yết thông minh, tuấn tú, năm 17 tuổi văn võ đã kiêm toàn. Khi Hai Bà tụ nghĩa ở Hát Môn, Tín Yết tới ra mắt, được phong chức Chỉ huy sứ tiền đạo tướng quân. Sau trận Cấm Khê, Tín Yết cũng tự trầm trên sông Hát.

HƯƠNG THẢO

Làng Bích Tràng, xã Tiền Phong, huyện Ân Thi thờ một người có công trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đó là cô Hương Thảo. Cô chỉ là một người giỏi đồng áng, đặc biệt có tài cắt cỏ, tương truyền cô cắt nhanh tới mức châu chấu bay không kịp, chết hàng loạt. Vì vậy mọi người gọi cô là Thảo. Khi Hai Bà Trưng phất cờ nổi dậy, cô Thảo xin gia nhập đoàn nghĩa binh do bà Thánh Thiên chỉ huy, cô được giao nuôi đội quân voi ngựa. Cô Thảo về quê dựng nhiều trại cỏ, rủ các cô gái trong vùng đi cắt cỏ phục vụ đoàn voi chiến, ngựa chiến. Sau khi đuổi Tô Định, bà Trưng Trắc lên ngôi vua phong cô là Hương Thảo tướng quân. Ba năm sau Mã Viện sang, cô vẫn ở tại Bích Tràng lo cung cấp cỏ cho voi ngựa. Khi giặc kéo đến, bắt Hương Thảo giao toàn bộ trại cỏ cho chúng, cô giả vờ đồng ý hẹn ngày giao trại. Nhưng cô đã cho đốt trại và giặc trở tay không kịp đều bị chết thiêu. Hương Thảo cũng hy sinh, được dân thờ ở trong chùa Cỏ, tương truyền là nền nhà cũ của cô.

LÔI LÂU CÔNG CHÚA - NGUYỆT HOA CÔNG CHÚA

Cũng ở thôn Bích Tràng có ngôi nghè thờ Lôi Lâu công chúa - Nguyệt Hoa công chúa. Tương truyền là tướng của Hai Bà. Chưa rõ sự tích.

HUYỆN KIM ĐỘNG

BÀ HỒNG NƯƠNG VÀ HAI CON LÀ PHỔ HỘ THƯỢNG SĨ, LINH LÔI.

Thôn Bồng Châu, xã Phú Cường, huyện Kim Động thờ ba mẹ con bà Hồng Nương. Hồng Nương chính gốc quê huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, Sơn Nam hạ đạo, lấy chồng ở thôn Bồng Châu. Sau khi sinh con thứ hai là Linh Lôi thì chồng mất, bà nuôi dạy hai con khôn lớn rồi theo nghĩa quân Hai Bà Trưng diệt giặc. Sau khi đuổi giặc Tô, ba mẹ con bà ở lại kinh đô. Trong một lần về quê Thiên Bản thì gặp cơn giông. Một con rồng vàng từ trên trời sa xuống và rước ba mẹ con bà lên trời.

NƯỚC CÔNG VÀ ĐÌNH CÔNG

Thôn Mai Viên, xã Song Mai, huyện Kim Động thờ hai vị trên, vốn là con quan tri phủ họ Dương tên Đào, người Xích Đằng. Năm hai chàng lên 5 tuổi, Dương tri phủ bị Tô Định giết. Phu nhân liền đem hai người con trốn về làng Tư Viên. Nghe tin Hai Bà dấy binh, hai chàng đến bái kiến. Sau khi dẹp yên Tô Định, hai chàng trở về Tư Viên thăm mẹ. Trên đường đi, gặp trời tối, nước sông dâng cao đón hai người về thủy cung. Hai Bà Trưng phong Nước Công làm Bến Nước đại vương và Đình Công làm Đang Đình đại vương.

HÙNG DŨNG ĐẠI VƯƠNG VÀ Ả NÀNG CÔNG CHÚA:

Làng Phú Khê, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động thờ hai tướng của Hai Bà Trưng là hai vị trên. Hùng Dũng là con ông Hùng Đức ở làng Bồng Lai, huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây. Hùng Dũng đến thụ giáo với Đào tiên sinh ở phường Thịnh Quang, huyện Thọ Xương. Thấy thông minh tài bộ, tiên sinh bèn gả con gái là Ả Nàng cho chàng. Bấy giờ Tô Định đã nhiều lần tới cầu hôn Ả Nàng nhưng đều bị từ chối nên hắn lập mưu giết ông Đào. Vợ chồng Hùng Dũng nghĩ kế báo thù, ngầm chiêu mộ binh sĩ, lập thành một đội quân. Cũng lúc đó Hai Bà Trưng khởi nghĩa, vợ chồng Hùng Dũng liền tới hội quân, lập công lớn. Ông Dũng được phong là Trấn Quốc đại vương và Ả Nàng được phong là công chúa. Sau này trong trận Cấm Khê, hai ông bà đều hy sinh.
[chuongxedap]

HUYỆN PHÙ CỪ

NGUYỄN VIẾT QUANG, VIẾT CƯ, VIẾT VÕ

Đình Nghĩa Vũ, xã Minh Tân, huyện Phù Cừ, thờ ba anh em họ Nguyễn là Viết Quang, Viết Cư, Viết Võ. Họ là con ông Nguyễn Huy Thành và bà Đào Thị Ánh, vốn quê ở châu Bố Chính sau rời ra sinh sống ở Khoái Châu. Lúc đó Hai Bà khởi binh, ba anh em họ Nguyễn tới đầu quân lập nhiều chiến công. Nhưng đến trận Cấm Khê thì cả ba đều hi sinh.

ĐỖ QUỐC UY

Thôn Tân Tiến, xã Minh Tân, huyện Phù Cừ thờ một vị tướng của Hai Bà là Đỗ Quốc Uy. Chưa rõ sự tích.

HUYỆN TIÊN LỮ

ĐỘNG TẦN HỒNG LOAN CÔNG CHÚA

Thôn Bái Khê, xã Cương Chính, huyện Tiên Lữ thờ nữ tướng này. Tương truyền thân phụ của bà là phủ quan ở Hải Dương bộ đã cùng ông Thi Sách dấy binh chống Tô Định song đều bị sát hại. Bà Động Tần liền theo Trưng Vương khởi binh. Được Trưng Vương phong là Động Tần Hồng Loan công chúa. Về sau bà hy sinh tại trận tiền.

LƯU THÁI HIỀN, THÁI THANH, THÁI THUẦN, THÁI SƠN, THỊ CHINH, THỊ CHÂU

Thôn Trí Thiện, xã Đức Thứng, huyện Tiên Lữ thờ tứ vị đại vương và nhị vị công chúa là sáu anh em họ Lưu. Chưa rõ sự tích. Thôn An Lạc cùng xã thì thờ riêng hai bà Lưu Thị Chinh và Lưu Thị Châu.

TRẦN MINH TÔNG VÀ THÔI NƯƠNG

Thôn Quyết Thắng xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ thờ hai ông bà Trần Minh Tông và Thôi Nương. Tương truyền là tướng của Hai Bà Trưng. Chưa rõ sự tích.

HUYỆN VĂN LÂM

TRẦN CÔNG, MINH CÔNG

Thôn Phả Lê, xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, thờ hai vị tướng của Hai Bà là Trần Công và Minh Công. Sự tích chưa rõ.

TAM GIANG

Thôn Đại Đồng, xã Đại Đông, huyện Văn Lâm thờ Tam Giang tương truyền là tướng của Hai Bà. Sự tích chưa rõ.

PHƯƠNG DUNG CÔNG CHÚA

Đây là một tướng của Hai Bà, được thờ ở thôn Ngọc Đà, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm. Sự tích chưa rõ.

HUYỆN YÊN MỸ

TRƯƠNG CÔNG ĐẠI VÀ LÝ CÔNG MẪN

Thôn Lạc Cầu, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ thờ hai vị tướng của Hai Bà. Đó là Trương Công Đại, con trai của Trương Công Nghiệp và bà Lý Thị Vị. Lý Công Mẫn là con nuôi của ông bà Trương.

Ông Công Nghiệp làm huyện quan huyện Tế Giang, đạo Kinh Bắc. Ông sinh được một trai là Công Đại và nuôi thêm Công Mẫn. Hai con nổi tiếng tài giỏi, thông minh xuất chúng. Tô Định lập kế giết cả nhà họ Trương nhưng bà Trương kịp cùng hai con trốn thoát về Lạc Cầu. Sau họ theo Hai Bà khởi nghĩa, vừa trả được thù nhà lại trả được nợ nước. Sau cả hai hy sinh trong một trận đánh lại Mã Viện.

(Theo tư liệu của Vũ Nguyên Lý)
[chuongxedap]

TỈNH VĨNH PHÚC - HUYỆN BÌNH XUYÊN

ĐẠM NƯƠNG - HỒNG NƯƠNG - THANH NƯƠNG

Đình làng Quất Lưu, nay thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, thờ ba vị nữ tướng của Trưng Vương.

Đó là ba chị em ruột Đạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương, là con gái huyện lệnh huyện Tam Dương, họ Lê. Huyện Bình Xuyên khi đó là một bộ phận của Tam Dương. Lúc này, Trưng Vương đã phất cờ khởi binh. Ba chị em họ Lê cũng nổi dậy hưởng ứng, đóng đại doanh ở Quất Lưu, đắp lũy đào hào, chiêu mộ được nhiều nghĩa sĩ, lập thêm ra sáu đồn trại ở quanh vùng quê. Cả ba cô từng theo Trưng Vương đi hạ thành Tô Định. Nhưng khi chống Mã Viện thì cả ba đều hy sinh ở trận tiền.

HUYỆN MÊ LINH - Yên Lãng

THIÊN BẢO - TRẦN NANG

Làng Thái Lai nay thuộc xã Tiến Thắng và làng Phú Mỹ nay thuộc xã Tự Lập đều thờ hai vợ chồng Thiên Bảo - Trần Nang làm thành hoàng. Sự tích hai tướng này đã nêu ở Chương ba.

LỰ NƯƠNG - BẠCH TRẠCH

Xã Tráng Việt ngày nay gồm ba thôn: Điệp Thôn tên Nôm là làng Đẹp, Tráng Việt tên Nôm là làng Tráng và Đông Giao (không có tên Nôm). Ở hai thôn đầu đều thờ hai chị em Lự Nương và Bạch Trạch làm thành hoàng.

Thần tích của cả hai làng đều kể:

Tại Quy Hóa động, châu Bố Chính có vị tôn trưởng tên là Hùng Hiên, dòng dõi vua Hùng. Vợ ông là bà Mai Thị Triết. Gần năm chục tuổi, họ sinh một gái, trên đỉnh đầu có chữ Thiên Sớ Lự Nương. Hùng Hiên liền đặt tên cho là Lự, hiệu là Ả Nàng. Đó là ngày mùng 3 tháng Giêng. Năm năm sau, họ sinh thêm một trai, trên đỉnh đầu có chữ Bạch Trạch nên dùng ngay chữ đó làm tên. Đó là ngày 10 tháng Sáu.

Lớn lên, hai chị em văn võ toàn tài. Lự Nương thay cha làm tôn trưởng rồi làm vua cõi đất Thiên Sớ. Một lần, hai chị em về thăm quê tổ là núi Nghĩa Lĩnh (nơi có đền thờ các vua Hùng, tỉnh Vĩnh Phú), thuyền đi đến huyện Chu Diên thì gặp Trưng Nhị. Hai bên thông tỏ họ tên, nguồn gốc và nhận ra là có họ hàng với nhau. (Hai Bà Trưng cũng là dòng dõi vua Hùng). Thế là hai chị em Lự Nương theo Hai Bà khởi nghĩa. Chị về đóng ở Tráng Việt, khi đó mới có ba chục nhà dân. Em về đóng ở Điệp Thôn khi đó cũng không quá hai chục mái nhà. Họ chiêu thêm dân lập thêm trại và sau trở thành những tướng tài của Hai Bà.

Ả LỰ - HÁC THẦN

Làng Đông Cao láng giềng của hai làng trên cũng thờ một cặp hai chị em tên gọi là Quốc Vương Thiên Sớ Ả Lự Đề Nương và Hác Thần cửa ải. Sự tích hai vị này cũng na ná như hai chị em Lự Nương, Bạch Trạch của hai làng Tráng Việt, Điệp Thôn. Ngọc phả Đông Cao kể rằng:

Người con thứ 18 của Lạc Long Quân về làm vua nước Thiên Sớ ở địa phận Thái Nguyên. Truyền đến đời thứ 27 là Hồ An (đổi từ họ Hùng sang họ Hồ). Vợ ông là bà Bạch Thị Phương. Năm Nhâm Tuất, ngày 4 tháng Giêng sinh một gái đặt tên là Đề Nương. Năm sau họ lại sinh ra một bọc trứng, nở ra một trai, đặt tên là Hác. Đề Nương thay cha làm quốc vương Thiên Sớ. Lúc đó Hai Bà Trưng bị Tô Định truy bắt, đã lánh đến ở nhờ nhà Đề Nương. Sau đó họ khởi binh đánh quân Hán. Thắng lợi rồi, Đề Nương cải tên là Ả Lự, lập cung phủ đồn binh ở Đông Cao. Nhưng sau lễ khao quân ngày mùng 1 tháng Hai thì Đề Nương thúc ngựa đi ra sông Nguyệt Đức bến Tiên Tân, “thét lên một tiếng, nước rẽ đôi đón bà về thủy cung”.

Còn chàng Hác thì sau hy sinh ở cửa bể Nam Hải trong lần ngăn chặn quân Mã Viện.

Như vậy phải chăng Ả Lự - Bạch Trạch của hai làng Tráng Việt, Điệp Thôn cũng là Đề Nương - Hác Thần của làng Đông Cao?

Thần tích ngọc phả vốn không ít những lầm lẫn về lịch sử.
[chuongxedap]

LŨ LŨY

Thần tích làng Văn Lôi (nay thuộc xã Tam Đồng) kể như sau: Làng Văn Lôi xưa là trang Cổ Lôi. Trong làng có nàng Tứ là con gái một lạc tướng nhân nằm mơ thấy đám mây sà xuống mà có mang. Nàng sinh một trai, đặt tên là Lũ Lũy.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lũ Lũy tìm đến đại doanh đầu quân. Sau khi dẹp xong Tô Định, Lũ Lũy về Văn Lôi lập đồn. Lúc quân Mã Viện kéo sang, chúng bao vây đồn này gọi hàng. Nhưng Lũ Lũy nhất định không đầu hàng. Giặc công phá. Biết không giữ nổi đồn trại, Lũ Lũy phá vây nhưng không sao thoát ra ngoài được. Chàng bèn rút gươm đâm cổ mà hóa (cũng có thuyết nói ông bị giặc lấy mất đầu). Đó là ngày mùng 3 tháng Ba. Nay ở xóm Trại có cánh đồng Dinh tương truyền là dinh trại xưa. Thuở trước, tới ngày kỵ, dân làng làm cỗ chay (để không đụng chạm tới dao) và làm một thủ cấp bằng giấy đặt trên bàn thờ.

PHỤ CHÚ - Làng Văn Lôi ở về phía tây-bắc làng Hạ Lôi và cách làng này tới ba làng: Liễu Trì, Đại Bái, Nội Đồng. Nhưng Văn Lôi vẫn nhận là thuộc trang Cổ Lôi xưa - như Hạ Lôi cũng vẫn thường nhận. Vậy có một thời đây hẳn chỉ là một đơn vị cư dân, sau đó một bộ phận mới tách ra đi lập nên một làng mới nhưng vẫn giữ cái gốc Lôi (Kẻ Lói?) để tưởng nhớ nguồn gốc.

Ả NƯƠNG - Ả NANG

Làng Yên Mạc nay thuộc xã Yên Mạc có vợ chồng ông Vương Hinh và bà Tạ Thị Long làm nghề trồng dâu nuôi tằm. Họ sinh được hai gái, đặt tên là Ả Nương, Ả Nang. Khi bà Trưng truyền hịch, hai chị em họ Vương chiêu tập được gần một nghìn dũng sĩ, tới hội quân ở Hát Môn. Hai cô được cử đi tuần du hai bộ Tây và Bắc. Tới núi Trâu Sơn ở huyện Tiên Du (nay núi này thuộc huyện Quế Võ, Bắc Ninh), hai cô đồn trú lại. Sau đó cả hai chị em góp công lớn trong việc hạ dinh Tô Định. Thắng lợi rồi, hai cô về khao thưởng quân gia tại làng quê Yên Mạc. Nhưng sau tiệc mừng là hai chị em đều hóa cùng lúc.

CỐNG SƠN

Làng Bạch Trữ nay thuộc xã Tiến Thắng vốn là thực ấp của Cống Sơn đại vương.

Nguyên tại châu Ái, phủ Trường Yên, động Hoa Lư có vợ chồng ông Hoàng Công Tạo và bà Đinh Thị Điền là người hiền, mấy đời làm nghề thuốc. Họ sinh có một trai đặt tên là Cống. Năm Cống 22 tuổi thì bố mẹ kế tiếp qua đời. Cống dời Hoa Lư ra bắc tìm đến ở với cậu ruột là Đinh Đạm làm trưởng bộ hộ Vũ Ninh. Nhưng chỉ ít lâu sau ông Đạm bị Tô Định giết hại. Đinh Cống trở về Hoa Lư dạy học. Là một người thày có đức độ lại có tài giáo dưỡng nên môn sinh đến rất đông, tiếng tăm của thầy vang đi xa.

Khi Hai Bà khởi nghĩa, bà Trưng Nhị thân hành đến Hoa Lư mời Đinh Cống ra hành doanh “thao luyện binh mã, huấn diễn binh thư”. Sau thắng lợi, Đinh Cống được cấp thực ấp ở Thủy Trung châu tức nay là Bạch Trữ. Các đời vua sau phong là Cống Sơn đại vương1.

ĐỨC CẢ - ĐỨC HAI - ĐỨC BA

Họ là anh em sinh ba, con ông Trương Long và bà Phùng Thị Loan, nguyên quán hương Lưu Xá, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam. Nghe tin Hai Bà khởi nghĩa, ba anh em rủ thêm ba mươi bạn hữu đến Hát Môn đầu quân. Tất cả đều dự trận đánh Tô Định. Nhưng khi đã hạ được thành thì ba anh em đều hóa cùng một lúc. Làng Trung Hậu lập đền thờ vì nơi đây có một tòa cổ miếu mà bà Phùng Thị Loan đã tới cầu tự sau đó sinh ra ba chàng trai dũng sĩ ấy.

XA LAI

Ba làng Yên Điềm, Cao Quang, Đức Cung nay hợp thành xã Cao Minh (trước thuộc huyện Kim Anh nay thuộc huyện Mê Linh) và đều thờ Xa Lai, một tướng của Hai Bà Trưng. Thực ra, đời cổ cả ba làng chỉ là một đơn vị cư dân thuộc huyện Bình Tuyền, đạo Thái Nguyên. Ban đầu gọi là trại Linh Sơn, sau đổi thành Linh Quang. Cuối cùng thành ba làng như hiện nay.

Thần tích kể rằng ở đất Long Biên có cô Đặng Huệ Nương tính thích du ngoạn. Lần đó, cô đến trại Linh Sơn nơi làng Cao Quang ngày nay thấy có chùa (?) đẹp liền ở lại tu hành. Rồi một hôm qua tòa cổ miếu ở chân núi Thằn Lằn có đám mây xà vào người. Thế là cô có mang, sinh ra Xa Lai.

Xa Lai sau rủ được ba mươi lăm bạn bè theo cánh quân bà Trưng Nhị đi đánh Tô Định. Xong việc, chàng về lập đồn tại Cao Quang. Tới khi Mã Viện xâm lăng, hắn cho quân tới đánh đồn này và Xa Lai đã chết trong trận chiến.
________________________________________________________________________________________
1. Bố họ Hoàng, mẹ họ Đinh, như vậy là ông thần Cống Sơn này theo về họ mẹ. Điều đó vẫn thường thấy trong các thần tích. Ví dụ ông thần làng Lệ Mật (Gia Lâm - Hà Nội) có bố là Nguyễn Quang, mẹ là Hoàng Thị Tâm vậy mà tên của ông là Hoàng Quý Công.

Sưu tầm
Nguồn trích dẫn: http://www.vnmilitaryhistory.net/index. ... 3.60;wap2/
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Trả lời