Cụ Tiến sĩ Trương Đăng quỹ

Giai đoạn Hậu Lê - Trịnh - Nguyễn
Trả lời
Hình đại diện của người dùng
admin
Quản trị chính
Quản trị chính
Bài viết: 231
Ngày tham gia: T.Bảy Tháng 2 26, 2011 9:15 am
Họ tên đầy đủ: Trương Xuân Lực
Địa chỉ: Nam Hoà, An Hưng, An Dương, Hải Phòng
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình
Điện thoại: 0904321599
Yahoo: truong.xuanluc
Đến từ: Hải Phòng
Liên hệ:

Cụ Tiến sĩ Trương Đăng quỹ

Gửi bài gửi bởi admin » T.Sáu Tháng 6 03, 2011 3:06 am

"Cha tôi lúc trẻ tên huý là Cử sau đổi là Đăng Quỹ, sinh ra giờ tỵ ngày 05 tháng 8 năm Quý Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 2 nhà Lê. Năm 11 tuổi mới bắt đầu đi học, tính siêng năng chăm học sớm tối không nghỉ ngơi. Năm 13 tuổi đã thông thạo các loại văn, 15 tuổi sát hạch ở huyện được trúng cách. Ông tôi liền mời quan tri huyện họ Nguyễn huý là Cơ người làng Đồng Xâm cùng huyện về dạy học rồi cha tôi lại theo học viện giám sinh (sinh viên trường Quốc Tử Giám) họ Nguyễn ở xã Nam Đường hơn một năm. Sau đó cha tôi vào kinh đô học quan tiến sĩ họ Trần ở làng Từ Ô. Ngài rất giỏi về Kinh Dịch, cha tôi lưu tâm nghiên cứu Kinh Dịch, thu nạp được mọi nhẽ tinh vi, nhất là đối với Chu Dịch (do Văn Vương và Chu Công Đán đời nhà Chu bổ sung) lại càng thông hiểu được mọi người khâm phục.

Về sau cha tôi lại theo học quan thám hoa họ Nguyễn người huyện La Sơn, phủ Đức Quang tỉnh Nghệ An. Học trò ngài đông hơn 1.000 người. Mỗi kỳ lãnh văn cha tôi thường cho là sẽ đỗ đại khoa.
Năm Bính Tý cha tôi 24 tuổi xin phép thầy học về thi hương, ngài đoán sẽ đỗ đầu. Quả nhiên khi xướng danh được đỗ đầu. Quyển thi được phê trung loại ưu. Bấy giờ ông nội tôi cũng cùng lên tỉnh nghe xướng danh lại rất vui mừng. Người bấy giờ đều phục quan thám hoa là giỏi. Năm ấy cha tôi cưới vợ họ Bùi huý là Cấp sau vì có lỗi bị bỏ.

Mùa xuân năm Đinh Sửu cùng với bạn bè là giám sinh họ Nguyễn quê ở Phú Xuyên cùng đi thuyền khi đến kinh đô, hai người cùng trọ ở nhà bà mẹ nuôi và là cô ruột của mẹ tôi (ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên nay là phố Hàng Mã, Hà Nội).

Bấy giờ mẹ tôi cùng ở với bà mẹ nuôi. Cha tôi liền nói với bà mẹ nuôi về việc cầu hôn. Rồi mời ông bà tôi cùng đến kinh đô (nhà Lê đóng đô ở Thăng Long ) dự lễ thành hôn. Mẹ tôi quê ở xã Tử Dương huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam ; họ Vũ tên huý là Tuyện sinh giờ mùi ngày 14 tháng 4 năm Đinh Tỵ ,niên hiệu Vĩnh Hựu thứ ba.
Năm ấy đã 21 tuổi, mẹ tôi có dung mạo đoan chính đức tính hiền hoà nghiêm trang. Ai thấy cũng trọng tính siêng năng lại nhớ lâu phân công việc gì hoặc về danh số nhiều ít, bụng suy nghĩ miệng nhẩm tính không cần học con tính. Tính rất trôi chảy, dẫu những ngư¬ời tính giỏi cũng không hơn gì, lại giỏi về lịch lãm nay đây mai đó, cho nên về cuộc sống đều có tri hoạch rõ ràng lại khéo về môn may vá, đêm thường đọc sách may áo đến khuya mới đi ngủ.
Bấy giờ lăng Phượng hầu mời cha tôi làm thầy dạy để cho con học tập thơ phú. Sau đó ít lâu lại ngồi dạy học ở một nhà gia thế thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Kinh Bắc. Giới sĩ phu gia tiếp và rất coi trọng. Mẹ tôi lo liệu mọi việc chu đáo. Cha tôi văn chương lỗi lạc, các thể văn kinh truyện, các thể phú đều giỏi. Khoa thị Đinh Sửu trúng độ tam trường.

Năm Kỷ Mão sinh ra em gái tôi là Kim Lân. Năm Canh Thìn đỗ nhị trường cùng với các bạn là giải nguyên Phạm Nguyễn Du ở Thạch Động. Nguyễn Quýnh ở Duy Nham thường làm lối văn phù phiếm không đúng khuôn phép nên không đỗ cao. Tôi sinh ra vào giờ Mão ngày 27 tháng 4 năm Tân Tý . Đến năm Quý Mùi cha tôi lại trúng tam trường. Cha tôi tự nghĩ là năm Đinh Sửu đến nay bao phen phóng lãng cùng với mấy người bạn chơi không còn nghĩ tới chuyện khoa cử. Năm ấy được bổ vào nhà Quốc Tử Giám, rồi lại được giảng dạy ở khánh cung vì có văn học được vua yêu mến.

Năm Cảnh Hưng thứ 27 , là năm Bính Tuất khoa thi về mùa xuân. Trước đó mẹ tôi khuyên cha tôi nên lưu tâm việc thi cử. Ngày 3/2 năm ấy cha tôi nằm mơ đi qua một cái cầu cao, trông thấy một người bạn thân là ông Nguyễn Mục Nho đi ở đằng sau còn run sợ ,chưa sang cầu được, cha tôi liền dắt cho cùng sang cầu, rồi có một con hoàng cẩu vảy đuôi vẫy mừng. Quả nhiên khoa thi ấy ông bạn họ Nguyễn đỗ sau tên của cha tôi. Còn ông bạn Ngô Ngọ Phong (tên huý là Ngô Thì Sĩ quê ở Tả Thanh Oai) cũng nằm mơ thấy thần cho câu đối rằng:
Danh hiển long hổ bảng
Cúc bộ kỳ lân các
茗 顯 攏 唬 磅
蒱 嗜 嶙 胳 掬

Nghĩa là:
Tên đề ở bảng long hồ
Chân bước tới gác Kỳ Lân.

Cha tôi vào trường đệ tứ, nhà vua nằm mơ thấy cha tôi đỗ tiến sĩ, liền sai hoàng thái tử (con trai cả của vua) lấy vuông gấm màu vàng chép 4 chữ:
Danh tại đệ tứ
茗 在 娣 儩
Nghĩa là tên đứng thứ tư, rồi sai quan tặng mừng. Cha tôi còn lo sợ chưa dám nhận, xin vào bái tạ ơn vua. Quả nhiên khi bộ Lễ yết bảng, cha tôi đỗ thứ tư thi đình đỗ thứ sáu, bấy giờ cha tôi 34 tuổi. Vua lấy làm vui và ban khen hậu.

Xã nhà từ bao đời nay chưa ai đỗ cao, cha tôi đỗ giải nguyên lại đỗ Tiến sĩ, chiếm kỷ lục cao. Xét về số đăng khoa lục ở huyện nhà, cha tôi cũng là thứ bảng (năm Dương Hoà thứ 6 triều Lê, nghĩa là trước đó 128 năm quan tiến sĩ họ Hoàng ở làng Đại Hoàng cùng huyện đỗ tiến sĩ khoa thi đình).
Ngày vinh quy được ban hai lá cờ;

1- Phụng chỉ vinh qui
俸 址 蠑 媯
(Vâng lệnh vinh qui ).

2-Song thân ai khánh
雙 櫬 埃 慶
(Cha mẹ đều còn)

Hoàng Thái Tử tự tay viết bài thơ đường luật vào bức đoạn màu đỏ để tặng.
Nhà vua ban cho hai con ngựa quý và sai mời viên quan cận thần tiễn đến bến Đông ở ngoại thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
Ơn huệ rất hậu, giới sĩ phu lấy làm vinh dự. Dân làng nghe tin ai cũng khen ngợi, tranh nhau đón mừng."

(Con trai trưởng Trương Đăng Thụ ghi lại
Tài liệu lưu tại nhà thờ Trương Đăng Quỹ ở Kiến Xương Thái Bình –Vũ Đình Ngạn dịch)
Những điều răn dạy con cháu (Di huấn của tiến sĩ Trương Đăng Quỹ ) Người ta gốc có tổ tiên, như cây có gốc, nước có nguồn, gốc lay thì cây tàn, nguồn cạn thì nước khô, luân thường sai trái thì nhà bị bại vong. Con cháu ta mỗi ngày sóc (mùng 1 hàng tháng); vọng (rằm hàng tháng) thắp hương tưởng nhớ công đức tổ tiên, giữ mình ngay thẳng là điều cần thiết.
Làm bậc gia trưởng nên lấy hiếu để thờ tổ tiên, kính thờ bậc huynh trưởng (đàn anh) hoà để sai các em, cần kiệm để làm việc nhà. Đó là những điều luôn ghi nhớ.
Mạnh Tử nói : Bất hiếu có 5 điều :
1. Lười biếng lao động không đoái nuôi cha mẹ.
2. Ưa cờ bạc hay uống rượu không nuôi cha mẹ.
3. Để riêng của cải lấy dấu vợ con không đoái tưởng việc nuôi nấng cha mẹ.
4. Theo lòng dục vọng làm càn để liên luỵ đến cha mẹ.
5. Hay gây gổ đánh nhau làm nguy hiểm đến cha mẹ.
Trong năm điều bất hiếu ấy, con cháu ta phải luôn răn mình.
Sách Học ký nói: Ngọc không giũa không thành đồ dùng, người ta không học không biết đạo lý.
Đạo ở khoảng trời đất bổn phận bày tôi đối với vua, bổn phận con cháu đối với cha mẹ, bộn phận em đối với anh, bổn phận vợ đối với chồng, bổn phận bạn bè đối xử với nhau làm sao cho hợp với đạo lý. Người không có học thì mới đồi bại, làm kẻ tặc thần của nước, nghịch tử của gia đình.
Vậy học để làm gì? Cốt để sáng tỏ luân lý, biết đạo làm người.

- Theo thói thường ở nước ta học là chăm việc thi cử nhằm đỗ đạt cao, rèn giũa từng câu văn nhưng phai mờ mất lương tri, cho nên có những người dù có đỗ đại khoa, làm quan sang chức trọng, quyền cao nhưng khi thực hành lại thiếu sót việc phò dân giúp nước như vậy cũng như là không có học mà thôi. Con cháu ta đi học phải nên nơi gốc mà giữ mình rèn đạo đức. Nhỏ thì học sách tiểu học, sách Lễ ký, lớn lên đọc kinh Dịch, phải tinh nghĩa theo tinh thần mà áp dụng việc ở đời. Chớ nên học theo kiểu xu thời.
- Tiên tổ ta lấy nghề theo canh nông để khởi nghiệp, luôn siêng năng, sẻn nhặt làm điều dạy răn con cháu. Ta nhờ phúc ấm tổ được hiển vinh, nay tuổi đã già, con cháu nên nghe lời ta khuyên nhủ: Trăm năm làm việc thiện cũng không phải là thừa; một ngày làm việc ác sẽ lập tức đến ngay. Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy. Chớ cho ta là nói viển vông.

- Đã gọi là người nho học là cốt quí có thực học. Những việc hàng ngày theo luân thường đạo lý cũng đều là học cả. Chớ nên chăm lo bề ngoài mà lơ là thực học chỉ chuộng hư văn.
- Việc tang cốt biểu hiện lòng thương xót, xuất phát từ chân tình. Còn như về nghi thức bề ngoài không phải là điều quan trọng cần thiết.
Những kẻ nhân có việc tang, chỉ chú trọng đến nghi thức bề ngoài , tỏ ra là lịch thiệp là xã giao giỏi, nhưng đó chỉ là giả tạo, chuộng hư văn. Đâu phải là chí tình.
- Ta nhờ tổ ấm được hiển đạt là may mắn. Bốn năm làm việc ở Đài đô ngự sử muốn chấn chỉnh lại kỷ cương. Phạm những việc kiện cáo có tính cách thương luân bại lý đều đem pháp luật để nghiêm trị, không dám đơn sai. Nhưng chí sáng suốt không bằng ông Cao Dao (một danh thần đời vua Thuấn rất sáng suốt công bằng trong việc xử kiện) lòng thành thực không bằng ông Quí Lộ trách sao khỏi có điều oan khuất.
Nay ta đã tuổi già về hưu, vui cùng con cháu, ta có những điều khuyên răn để gìn giữ âm chất nên viết bài này con cháu nên ghi nhớ .

Đường ái Văn A
Chúc mừng Trương tướng công
(Bài dịch bức trướng của người Hoa)
Làm quan có đức với dân, được dân ca ngợi, xưa nay từng thế. Đến như người dân nước khác cũng ca ngợi như sự việc hôm nay.
Quan Đốc thị tỉnh Quảng Nam là Trương công làm sao lại có thể khiến người Trung Quốc biết ơn sâu sắc đến thế? Bọn ông Hựu đều nói: Sau nạn binh hoả ở châu Thuận Hoá lại gặp khi mất mùa đói kém; giặc cướp nổi lên, ấy vậy mà nay không còn ruộng bỏ hoang, chợ họp đông vui, giao thông thuận lợi, trộm cướp tan hết, có được cảnh thái bình thịnh vượng, hỏi đó là công sức của ai ?
Kính duy Trương công: là bậc có danh vọng, uy tín từ nhỏ đã thông minh, người đời coi như bậc thần đồng, khoa thi Bính Tý đỗ giải nguyên (đỗ đầu), khoa thi Bính Tuất đỗ tiến sĩ. . Trải qua các chức Giám sát Ngự sử các đạo Thanh Hoa, Kinh Bắc, làm đốc thị ở Nghệ An, ở đâu cũng có thành tích về chính sự, được nhân dân ca ngợi, bia miệng còn lưu truyền, chúng tôi vẫn nghe nói thế.
Nay Trương công làm phó đốc thị đạo Thanh Hoa cùng với Phạm quận công và Nguyễn công cũng có những chính sự tốt như khoan hoà, thanh liêm, chính trực nổi tiếng. ở đất nước Trung Quốc chúng tôi cũng ít được người như thế

Ban ơn huệ không riêng gì ai, chăm sóc nhân dân rất chu đáo, vui cái vui của dân, làm lợi chung cho dân, đến nỗi ông đến đâu dân bốn phương nghe tin cũng muốn đến làm dân bản xứ. Vậy Trương công đã đem lại cho dân được nhiều lắm. Lấy những điều trông thấy ngày nay đọ với những điều được nghe từ trước, chẳng có điều gì sai cả. Bọn chúng tôi là người giang hồ, được Trương công coi như dân con một nhà chúng tôi rất mến phục, biết lấy gì đền ơn trả nghĩa. Nay muốn nhờ ông viết giúp mấy lời để tỏ lòng ngưỡng mộ Trương công.
Tôi1 vốn tính sơ thiển ít khi ca ngợi người ngoài và thường than là nếp sống thuần tuý đời xưa nay rất hiếm, thường là siểm nịnh ton hót tôi chẳng ưa .
Nay người nước tôi làm việc này là hợp với đạo lí xưa, tấm lòng chân thành của dân cần thông đạt lên trên, chính sự tốt đẹp của Trương công rõ rệt.
Rồi đây ở chốn miếu đường hẳn ông sẽ ban nhuần ơn đức cho cả nước chứ chẳng riêng gì một vùng một ấp, mà bài tụng này của nước chúng tôi nào đã nói hết được cái phẩm chất cao đẹp của Trương công đâu!
Phái tôi vốn hâm mộ Trương công, nay thể theo nguyện vọng của dân mà quên cả sự vụng về viết bài tụng này, chẳng rõ có hợp với đạo lý người xưa không. Bọn ông Hựu dạ dạ ra về, rồi thuật lại những điều tôi vừa nói và có bài thơ đem thêu vào vóc để kính gửi, tỏ rõ tấm lòng chân thành.

Thơ rằng:
Cung hạ Trương Tướng Công thi.
Thanh thế sùng văn giáo.
An biên dụng cự nho.
Miếu đường tư Lý Đỗ
Giang hải ngưỡng Hàn Tô
Yển thảo phong sơ vũ
Tuỳ xa vũ sạ nhu
Dương xuân kim hữu cước
Thuỳ cánh thán vô nhu .

Dịch:
Thơ CHúC MừNG TRƯƠNG TƯớNG CÔNG
Đời thịnh mừng nay trọng việc văn
Giữ yên biên giới có nho thần
Miếu Đường Lý Đỗ vai kỳ lão
Non nước Hàn Tô, bậc đại nhân
Cỏ mởn non xanh vờn gió nhẹ
Xe đi đây đó được mưa nhuần
Không ai còn oán vì cùng khổ
Khắp chốn vui mừng được cảnh xuân.


(Theo tài liệu lưu tại nhà thờ Trương Đăng Quỹ ở Kiến Xương ,Thái Bình –Vũ Đình Ngạn -dịch)
Bản tin Họ Trương

Hình đại diện của người dùng
admin
Quản trị chính
Quản trị chính
Bài viết: 231
Ngày tham gia: T.Bảy Tháng 2 26, 2011 9:15 am
Họ tên đầy đủ: Trương Xuân Lực
Địa chỉ: Nam Hoà, An Hưng, An Dương, Hải Phòng
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình
Điện thoại: 0904321599
Yahoo: truong.xuanluc
Đến từ: Hải Phòng
Liên hệ:

Người vợ và người con gái tiến sĩ Trương Đăng Quỹ

Gửi bài gửi bởi admin » T.Sáu Tháng 6 03, 2011 5:01 am

1. Phu nhân tiến sĩ Trương Đăng Quỹ là Vũ Thị Tử Diêu (武氏紫姚), người phủ Thường Tín; một vùng ngoại thành Thăng Long xưa. Trên bước đường công danh, chắc là cụ Trương Đăng Quỹ đã gặp được bà trong một lần dã ngoại, giao du cùng giới quan chức hoặc do một vị đồng giới nào đó giới thiệu, sau khi ông thi đỗ cử nhân năm (1757); khi bước sang tuổi 25. Giai thoại dân gian còn kể: Bà là người phụ nữ đoan chính, đảm đang lại có rất nhiều nết tốt do sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo lại cũng ở một miền quê lúa chiêm mùa hai vụ gần kinh đô. Khi là vợ một vị quan chức, Vũ Thị Tử Diêu không bao giờ lộng quyền, cậy thế vợ quan để uy hiếp nhân dân mà luôn luôn tỏ rõ thái độ nhường nhịn; cụ sống giản dị chất phác, thương người nghèo khó. Trong nhiều lần tâm sự với chồng cụ thường lựa lời khuyến khích, động viên chồng hăng say với việc nước, luôn suy nghĩ và hành động sao cho sáng tỏ đức tính liêm khiết, tận tụy hết mình theo lẽ “trung quân ái quốc”.

Thời ấy, đã có một chi họ Trương với hai chi họ Vũ và họ Nguyễn có mâu thuẫn nhau trong giao tiếp làng quê. Sau khi thi đỗ làm quan cũng có kẻ xu nịnh, gợi lại hận thù xưa; nhưng Trương Đăng Quỹ cùng vợ cương quyết gạt bỏ và nghiêm cấm việc báo thù hay lời ra tiếng vào hằn học ghét bỏ lẫn nhau. Khi có dịp tiếp xúc, hai cụ thường ân cần nhã nhặn, lấy hòa hiếu làm trọng. Có lần do bất đồng ý kiến với viên thư ký, cụ Trương Đăng Quỹ nổi nóng, quát tháo ầm ĩ nơi công đường. Song viên thư ký vẫn tỏ ý phản đối, không chịu khuất phục. Cụ bà biết khá rõ tình tiết sự việc bèn lặng lẽ về nhà lau chùi, quét dọn, trang trí lại chậu hoa cây cảnh như dịp Tết rồi sai gia nhân mua sắm thực phẩm, bày tiệc chờ cụ ông về. Từ công đường về nhà, thấy sự thay đổi bất thường, cụ Trương Đăng Quỹ hỏi cho ra vỡ lẽ, cụ bà liền đỡ lời: “- Ông là một quan chức liêm chính được bà con khắp xứ gần xa ca ngợi, quý mến; lại rất khoan dung độ lượng, biết kiềm chế, nhẫn nại. Nghe nói hôm nay viên thư ký nóng nảy, nói thẳng, hơi xấc xược mà ông vẫn điềm tĩnh phân giải, tỏ thái độ dung thứ là tốt lắm. Sự việc tốt đẹp như vậy nên tôi làm lễ kính báo gia tiên, xin lộc làm tiệc mừng.” Cụ ông vui vẻ về suy nghĩ hào hiệp của cụ bà. Từ đấy về sau không bao giờ cụ ông nổi nóng với ai nữa.

2. Đức tính đó của cụ bà Vũ Thị Tử Diêu chính là nguồn cội, nguyên cớ tình duyên cho hai cụ có người con tài hoa là nữ sĩ Trương Quỳnh Như tác giả 12 bài thơ xướng họa với người yêu là nhà thơ Phạm Thái (1777-1813). Trương Quỳnh Như - người con gái yêu của cụ ở độ tuổi hai mươi đã có bài thơ mừng cha:

Nhân cơ nghĩa chỉ bồi chi hậu
Quốc sủng quân du điệp hiển vinh
Phẩm thị thanh liêm dân mộ đức
Tiết duy trung nghĩa đế tri danh
Viễn thị hà hải bao hàm lượng
Quảng thí càn khôn phát dục tình
Dĩ đức phục nhân đô cảm hóa
Thản nhiên đãng đãng xứng tâm bình

Tạm dịch:

Đúc nghĩa rèn nhân đã bao công
Ơn vua lộc nước lại thêm nồng
Phẩm hạnh thanh liêm dân mến đức
Vua khen tiết nghĩa thấu lòng trung
Tích thiện bao la như trời đất
Lượng cả bao dung tựa biển Đông
Cảm hóa lòng người đều kính phục
Hạnh phúc niềm vui thật vô song.

(Đông hào)

Sau đó khoảng hai ba năm thì cuộc đời Truơng Quỳnh Như bị sóng tình vùi dập. Oan khuất không phải do Phạm Thái gây ra và khi cô ra đi rồi, nhà thơ Phạm Thái đã viết bằng máu nóng tim gan một áng văn bất hủ về tình yêu nam nữ trong văn học cận hiện đại Việt Nam; rồi sau đó ông còn hoán cải tên nhân vật là chàng Phạm và nàng Trương trong truyện thơ Sơ kính tân trang (1804). Bài khảo cứu của Lại Ngọc Cang và bản tái dịch, phiên âm tác phẩm này năm 1960 có viết về Phạm Thái rằng: “Ông còn có một người bạn trong cùng trong đám cựu thần nhà Lê là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (Con cả của tiến sĩ Trương Đăng Quỹ - TSH chú thích), lúc ấy theo chính sách khoan hồng của nhà Tây Sơn, vẫn được giữ chức trấn thủ Lạng Sơn. Thụ mời ông lên để cùng nhau bàn chuyện phù Lê.Trong khi ông trở về Kinh Bắc thì Thụ mất, linh cữu đưa về an táng tại quê nhà, thuộc làng Thanh Nê, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam.
Được tin, Phạm Thái từ Kinh Bắc tìm tới Thanh Nê viếng mồ bạn. ở đó Phạm được biết Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quỹ là cha bạn. Trong thời gian ở chơi nhà Kiến Xuyên hầu, Phạm Thái quen biết Trương Quỳnh Như, tiểu tự là Xuân Hương, con gái của hầu và em ruột Thụ. Quỳnh Như là một nữ sĩ có tài thơ Nôm đã cùng Phạm Thái nhiều lần xướng họa. Hai bên yêu nhau tha thiết song việc nhân duyên không thành. Quỳnh Như tự tử. Phạm Thái đau khổ bỏ ra đi.” Đó là hoàn cảnh ra đời bài Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái đã được Lại Ngọc Cang dịch, chúng tôi có chỉnh lý :

Nương tử ơi!
Chướng căn ấy bởi vì đâu?
Oan thác ấy bởi vì đâu?
Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm.
Lại có điều đau đớn thế!
Nhà huyên ví có năm có bảy,
mà riêng một mình nàng đeo phận bạc,
thì lửa nguội, nước rơi còn có lẽ!
Thương hại thay!
Hoa có một cành, tuyết có một quãng,
nguyệt có một vừng, mây có một đóa,
thân là thân hiếm hoi chừng ấy,
nỡ nào lấy đôi mươi năm làm một kiếp,
mà ngơm ngớm chốn non bồng nước nhược,
không chút gì đoái cõi phù sinh?
Vì kiếp mà tiên thù với tục
Thì sao xưa vâng mệnh xuống trần chi?
Nay đã nguyện thân này cho vạn kiếp,
Thì cũng trọn ba vạn sáu ngàn ngày cho đủ lệ:
Nọ xuân kia phu tử, góp với trần gian không chút bận,
Rồi sẽ rong chơi chín suối,
Cớ gì riêng, bỗng vội vàng chi?
Ôi! Chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyên suồng sã!
Những như thân gia này tình cảnh ấy,
ngược xuôi kia cũng ngậm ngùi cho
Huống ta cùng nương tử, tuy chẳng thân kia thích nọ
Nhưng tình duyên từng nấy
Cũng là một chút cương thường!
Dẫu rằng kẻ đấy, nười đây
Song ân ái bấy lâu nay
đã biết bao nhiêu tâm sự!
Ta hăm hở chí trai hồ thỉ
Bởi đợi thời cho nấn ná nhân duyên;
Mình long đong thân gái liễu bồ
Vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.
Cho đến nỗi hoa rơi, lá rụng, ngọc nát, châu chìm!
Chua xót cũng bởi vì đâu? Não nuột cũng bởi vì đâu?
Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc,
Sụt sùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn!
Đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử!


Theo Bản tin (nội san) Họ Trương Việt Nam

truonghongnhung2991
Thành viên mới
Thành viên mới
Bài viết: 1
Ngày tham gia: T.Sáu Tháng 6 23, 2017 3:58 am
Họ tên đầy đủ: Trương Hồng Nhung
Địa chỉ: Thạch Khê - Thạch Hà - Hà Tĩnh
Họ Trương quê gốc ở: Thạch Khê - Thạch Hà - Hà Tĩnh
Điện thoại: 0988157000
Yahoo: hoaxuongrong_2991

Re: Cụ Tiến sĩ Trương Đăng quỹ

Gửi bài gửi bởi truonghongnhung2991 » T.Sáu Tháng 6 23, 2017 4:07 am

"Ông Trương Đăng Quỹ làm đô đốc đại ngự sử dưới triều Cảnh Hưng, Lê Hiển Tông (1740 - 1786), đã giám bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý, giúp ông Trương Quốc Kỳ (cha của Trương Quốc Dụng) khỏi bị sát hại. Sau đó ông định cư ngoài Bắc nhưng không rõ ở đâu."
Ad cho em hỏi có tài liệu nào về cụ Trương Đăng Quỹ nữa không, và thông tin trên có đúng về cụ không ạ.

Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách