Các Tiến sĩ họ Trương

Sách tư liệu tham khảo liên quan đến họ Trương
Trả lời
Hình đại diện của người dùng
Trương Quang Thông
Quản lý Nội dung
Quản lý Nội dung
Bài viết: 871
Ngày tham gia: T.Tư Tháng 3 02, 2011 11:49 pm
Họ tên đầy đủ: Trương Quang Thông
Địa chỉ: Phường Thống Nhất- TP Biên Hòa- Đồng Nai
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Ngãi
Điện thoại: 0903989432
Yahoo: denro_bium
Đến từ: Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Liên hệ:

Các Tiến sĩ họ Trương

Gửi bài gửi bởi Trương Quang Thông » T.Bảy Tháng 4 06, 2013 8:13 am

Hệ thống 82 văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, nơi vinh danh các Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến khoa thi năm 1779. Nơi đây trên mỗi tấm bia khắc một bài văn nội dung ghi lại lịch sử của các khoa thi...
[attachment=0]bIA VAN MIEU.jpg[/attachment]
Nguồn tư liệu Viện nghiên cứu Hán Nôm

Hệ thống 82 văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, nơi vinh danh các Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến khoa thi năm 1779. Nơi đây trên mỗi tấm bia khắc một bài văn nội dung ghi lại lịch sử của các khoa thi tổ chức từ năm 1442-1779 và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài. Có 82 tấm bia tương ứng với 82 khoa thi được dựng.

Tấm bia tiến sĩ đầu tiên được dựng năm 1484 đời vua Lê Thánh Tông, ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442. Tấm bia cuối cùng được dựng vào năm 1780 cho khoa thi tổ chức vào năm 1779. Không chỉ là nguồn tư liệu phong phú phản ánh một giai đoạn lịch sử hơn 300 năm dưới triều Lê - Mạc, bia Tiến sĩ Văn Miếu còn là bức tranh sinh động về việc tuyển dụng và đào tạo nhân tài độc đáo ở Việt Nam, thể hiện ở tư tưởng trị quốc dựa vào nhân tài.



Ngay ở tấm bia đầu tiên đề tên Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) bài ký do Thân Nhân Trung (từng giữ chức thượng thư bộ lại, Đông các đại học sĩ kiêm tế tửu Quốc Tử Giám) soạn đã chỉ rõ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”. Hệ thống văn bia nói trên vẫn tồn tại ở Văn Miếu trên 500 năm nay, thường xuyên nhắc nhở các triều đại về chính sách đối với các hiền tài, những danh nhân văn hóa trong lịch sử và nhận định về sự thịnh suy của đất nước gắn liền với sự thịnh suy của hiền tài.

Trong số 82 văn bia đó, có 11 Tiến sĩ họ Trương đã đỗ Tiến sĩ trong 11 khoa thi, được vinh danh trên 10 văn bia. Ban quản trị cổng thông tin điện tử họ Trương Việt Nam xin giới thiệu tới bà con, anh chị em họ Trương và các độc giả về tên tuổi, sự nghiệp, quê quán, các chức vụ đã kinh qua của 11 vị Tiến sĩ họ Trương trên :

1. Trương Đức Quang, người xã Ngọc Xuyết, huyện Hoằng Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), đã đỗ Đệ Nhị Giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiện Cảnh Thống năm thứ 5 (1502). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

2. Trương Quang Tiền (1615-1677) người xã Kim Hoạch, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc xã Thiệu Phúc, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), đã đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Dương Hòa năm thứ 6 (1640). Ông làm quan Đông các Hiệu thư, tước Mai Lâm tử. Sau ông đổi tên là Trương Luận Đạo.

3. Trương Quang Trạch (1641-?) người xã Tông Lỗ huyện Thạch Hà (nay là thuộc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Đề hình Giám sát Ngự sử, Đốc trấn Cao Bằng. Sau ông bị bãi chức.

4. Trương Hữu Hiệu (1632-1696) người xã Thiên Linh, huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Trị năm thứ 1 (1676). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

5. Trương Công (1665-?) người sở Thiên Kiện, huyện Thanh Liêm (nay thuộc xã Thanh Tâm huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu niên hiệu Chính Hòa năm thứ 6 (1685). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Công kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Lỵ Quận công. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo. Sau ông đổi tên là Trương Công Giai.

6. Trương Minh Lượng (1636-?) người xã Nguyễn Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc xã Tiên Nội huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa năm thứ 21 (1700). Ông làm quan Tự khanh.

7. Trương Hữu Thiệu (1687-?) người xã Thiên Linh, huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718). Ông trước đỗ khoa Sĩ vọng, làm quan Huấn đạo, thăng Giám sát.

8. Trương Thì (1701-?) người xã Nhân Mục, Cựu huyện Thanh Trì (nay phường Khương Đình quận Thanh Xuân Tp. Hà Nội). Ông đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái năm thứ 2 (1721). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo.

9. Trương Nguyễn Điều (1685-?) người xã Xuân Canh, huyện Đông Ngàn (nay là xã Xuân Canh huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), trú quán xã Hàn Lạc huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Phú Thị huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức năm thứ 2 (1733). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử. Có tài liệu ghi là Trương Hữu Điều.

10. Trương Đình Tuyên (1713-?) người phường Công Bộ, huyện Quảng Đức (nay thuộc quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 5 (1739). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công.

11. Trương Đăng Quỹ (1733-?) người xã Thanh Nê, huyện Chân Định (nay thuộc huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình). Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 27 (1766). Ông giữ các chức quan, như Thừa chính sứ, Bồi tụng, Đồng bình chương sự. Ông là một trong những cận thần theo Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh (Trung Quốc), cuộc đời về sau không rõ.

Nguồn: vntimes

Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc đời chỉ là một giấc mộng !

Trả lời