Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Sinh hoạt cộng đồng Họ Trương Việt Nam
Trả lời
Hình đại diện của người dùng
ks.hiep
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 10
Ngày tham gia: T.Năm Tháng 12 01, 2011 3:28 am
Họ tên đầy đủ: trương văn hiệp
Địa chỉ: thừa thiên huế
Họ Trương quê gốc ở: thừa thiên huế
Điện thoại: 01234327853

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi ks.hiep » T.Tư Tháng 12 14, 2011 3:14 am

Chào các Bác, các Chú, và các Anh chị trên diễn đàn

Hôm trước Hiệp có nhận được một tạp san Trương Tộc Việt Nam do anh Trương Xuân Lực gửi tặng cho dòng họ em, em đã xem qua và có một vài thắc mắc nhỏ là qua tạp chí em được biết đến ngài Thủy tổ của nhiều dòng họ có tên là "Trương Quý Công" vậy các bác, các chú và anh chị cho hỏi là cái tên này có từ đâu và nó có ý nghĩa như thế nào, trong số những họ có ngài Thủy tổ tên "Trương Quý Công" có dòng họ của em nên em rất quan tâm đến vấn đề nay.

Em rất mong nhận được sự chia sẻ của mọi người để hiểu biết của em ngày một phong phú hơn, qua đó có thể tìm hiểu và kết nối thông tin đồng tộc

Xin trân trọng cám ơn quý vị trong Gia tộc

Kính thân,
Trương Văn Hiệp
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Sửa lần cuối bởi Trương Văn Ngọc vào ngày T.Hai Tháng 4 01, 2013 2:13 pm với 3 lần sửa.
Lý do: "Trương Công Quý" thành "Trương Quý Công"

Trương Quốc Chính
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 68
Ngày tham gia: T.Hai Tháng 3 14, 2011 10:51 am
Họ tên đầy đủ: Trương Quốc Chính
Địa chỉ: P209, A12, Phường Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội
Họ Trương quê gốc ở: La Cầu,Mỹ Thọ, Bình Lục, Hà Nam
Điện thoại: 0913070587
Yahoo: quocchinh_cand
Đến từ: P209,A12, Phường Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Quốc Chính » T.Năm Tháng 12 15, 2011 1:24 pm

Em xin phép anh Thông và Chú Trương Quốc Bình. Xin được hỏi bạn Hiệp, bạn đọc cuốn nội san đó là cuốn nào vậy, xin bạn giới thiệu tên cuốn nội san đó, xin phép hỏi bạn có phải là cuốn "Một số thông tin về họ Trương ở Việt Nam" không. Mình hỏi bạn vậy, bởi vì nếu là cuốn nội san "Một số thông tin về họ Trương ở Việt Nam" trong đó có giới thiệu rất nhiều các chi họ Trương trong cả nước, và có một số bài viết về các chi họ Trương và các danh nhân họ Trương, xin bạn cho biết về chi họ cụ thể có cụ Thủy tổ Trương Công Quý đề cập trong cuốn nội san, cuốn nội san đó mình cũng tham gia biên tập nên chắc có thông tin cung cấp cho bạn.
Thân,
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Hình đại diện của người dùng
ks.hiep
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 10
Ngày tham gia: T.Năm Tháng 12 01, 2011 3:28 am
Họ tên đầy đủ: trương văn hiệp
Địa chỉ: thừa thiên huế
Họ Trương quê gốc ở: thừa thiên huế
Điện thoại: 01234327853

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi ks.hiep » T.Bảy Tháng 12 17, 2011 7:55 am

Trước hết cám ơn anh Trương Quốc Chính và anh Trương Quang Thông, Em đã đọc cuốn nội san " Một số thông tin về họ Trương ở Việt Nam" ơ trong cuốn nội sang đó có 2 chi họ có tên ngài Thủy Tổ Trương Quý Công
- Họ thứ nhất là Họ Trương ở thôn La Cầu, xã Mỹ Thọ, huyện Lục Bình, tỉnh Hà Nam
- Họ thứ hai là Họ Trương ở Thôn Tảo Khuê, xã Tảo Dương Văn, Ứng Hòa, Hà Nội, Họ trương này là họ của chú Trương Quốc Bình trong nội san này có ghi rỏ một tổ của họ là "Lại Bộ Lang trung, Trương Quý Công chi mộ"
- Họ thứ ba là Họ trương ở Phường Thủy Xuân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế( chi họ này không có trong nội san) ngài Thủy Tổ có tên là Trương Đại Lang Quý Công
và cuối cùng là ngài Thủy Tổ họ của em
Kính cảm ơn các bác các chú đã quan tâm giải thích.

Trân trọng kính chào,
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Hình đại diện của người dùng
Trương Tuấn
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 30
Ngày tham gia: T.Bảy Tháng 3 12, 2011 1:25 pm

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Tuấn » CN Tháng 12 18, 2011 7:41 am

Hiệp thân mến

Chú xin mạn phép nói lại với cháu điều này, trong phép chép gia phả có một định lệ từ cổ xưa rằng dù sang dù hèn thì khi chép tên tiền nhân dòng họ nhà mình nếu không ghi thẳng tên húy ra thì đều phải ghi theo lối tôn xưng , tức ghi là "quý công" hoặc có khi ghi "Đại lang". "Quý công" ở đây có nghĩa là "đức ông". Ví dụ " Đệ nhất đợi: Trương Quý Công" tức " đời thứ nhất: Đức ộng Trương...". Hoặc có nhà thì ghi " Đệ nhất đợi: Trương Đại Lang" , đại là lớn và lang là chàng thì ít ai không biết.

Việc không ghi tên húy ra có thể là do húy kỵ trong việc ghi thẳng tên tuổi tổ tiên, nhưng phần lớn là do bị mất mát gia phả trước đây nên không còn nhớ rõ. Vì vậy chỉ ghi lại để đánh mốc số đời mà thôi.

Cần nhớ rằng trong quá trình di dân, khai làng lập ấp thì vì nhiều lý do mà các cụ không ghi được phả ngay. Đến năm hay bảy đời sau con cháu mới tiến hành chép phả, lúc đó thì cái nhớ cái không biết. Vì vậy mà còn nhiều chỗ bị khuyết trong ghi chép.

Giai đoạn đầu của một cuốn phả được hình thành thường gọi là ghi "phủ ý" tức là ý biết và nhớ ra sao thì ghi lại. Những điều không còn được nhớ biết có thể do hoàn cảnh, nhưng phần lớn là do tập quán húy kỵ kiêng không nêu tên tổ tiên mà ra.

Vì vậy việc trùng cách ghi ngài thủy tổ làTrương Quý Công hoàn toàn không có nghĩa các ngài đang nói là chỉ chung một vị.

Vài lời cùng cháu.

Thân mến
Trương Lê Anh Tuấn.
Sửa lần cuối bởi Trương Tuấn vào ngày T.Hai Tháng 12 19, 2011 2:15 pm với 1 lần sửa.

Hình đại diện của người dùng
Trương Quang Thông
Quản lý Nội dung
Quản lý Nội dung
Bài viết: 871
Ngày tham gia: T.Tư Tháng 3 02, 2011 11:49 pm
Họ tên đầy đủ: Trương Quang Thông
Địa chỉ: Phường Thống Nhất- TP Biên Hòa- Đồng Nai
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Ngãi
Điện thoại: 0903989432
Yahoo: denro_bium
Đến từ: Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Liên hệ:

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Quang Thông » CN Tháng 12 18, 2011 2:50 pm

Rất tâm đắc với ý kiến của BS Trương lê Anh Tuấn, đó là một thực trạng của xã hội Việt Nam trong quá khứ mà chúng ta phải có một cái nhìn thật khách quan mới thấy được.

Chúng ta cần phải định vị đúng thời điểm bối cảnh của xã hội Việt Nam tại những mốc thời gian ghi phả hệ mà hình dung ra, đừng dừng lại tại thời điểm hiện nay để suy ra thì thật không chính xác. Bỡi xã hội và trình độ dân trí của Việt Nam và thế kỹ 14 đến 18 là một xã hội nghèo nàn, lạc hậu; Chữ Hán và chữ Nôm không phải ai cũng biết, còn đại đa số là mù chữ. Do vậy mà việc ghi phả hệ chỉ có đến khi nào dòng họ có người được học chữ ghi lại thì việc ghi lại chỉ theo " Phủ ý " mà thôi.

Rất cảm ơn BS Trương Lê Anh Tuấn đã có ý kiến giải tỏa vấn đề tương đối phức tạp.

Sau đây là một số hình ảnh của con người Việt nam thời xa xưa để chúng ta nhìn nhận về trình độ học vấn, bối cảnh xã hội của đại đa số cư dân Việt để hình dung:
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc đời chỉ là một giấc mộng !

Hình đại diện của người dùng
Trương Quang Thông
Quản lý Nội dung
Quản lý Nội dung
Bài viết: 871
Ngày tham gia: T.Tư Tháng 3 02, 2011 11:49 pm
Họ tên đầy đủ: Trương Quang Thông
Địa chỉ: Phường Thống Nhất- TP Biên Hòa- Đồng Nai
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Ngãi
Điện thoại: 0903989432
Yahoo: denro_bium
Đến từ: Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Liên hệ:

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Quang Thông » CN Tháng 12 18, 2011 4:06 pm

Thêm một số hình
Những người bán gạo 1914-15.jpg
Vùng ven HN - Phụ nữ An Nam (nhìn mặt và tướng người có vẻ như là đàn ông chứ không phải phụ nữ).jpg
TONKIN - HANOÏ. - Population flottante d'un sampan.jpg
Outskirts of Hanoi - Primitive.jpg
gánh phở bán rong bên bờ sông Hồng.jpg
haiphong - labourage a sec.jpg
Doan ca nhac_1906.jpg

Với bối cảnh xã hội và con người như thế, liệu có biết cách ghi lại gia phả hay không ?. Cho nên những thông tin có được về những người trong họ tộc đến khi có người trong dòng họ ghi lại bằng chữ Hán hay chữ Nôm thì có giai đoạn chỉ là chung chung, chưa nói gì đến tập quán "kỵ húy", chỉ gọi tên Bố bằng tên con đầu lòng, thì sao tránh được sau này phải sử dụng các từ "Qúy công" "Đại Lang"

Thấy mà thương cho dân Việt Nam thời xa xưa ! nghèo nàn và lạc hậu.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc đời chỉ là một giấc mộng !

Hình đại diện của người dùng
ks.hiep
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 10
Ngày tham gia: T.Năm Tháng 12 01, 2011 3:28 am
Họ tên đầy đủ: trương văn hiệp
Địa chỉ: thừa thiên huế
Họ Trương quê gốc ở: thừa thiên huế
Điện thoại: 01234327853

Re: Một vài thắc mắt xin hỏi mọi người

Gửi bài gửi bởi ks.hiep » T.Hai Tháng 12 19, 2011 12:31 am

Về cái này cháu củng còn hạn chế, cháu rất cám ơn các bác, các chú đã chia sẻ cho cháu những kiến thức này để hiểu biết của cháu ngày một rộng hơn!

Xin cám ơn chú Trương Lê Anh Tuấn, chúc chú và gia đình sức khoẻ và thành đạt

Thân ái,
Trương Văn Hiệp

Trương Quốc Chính
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 68
Ngày tham gia: T.Hai Tháng 3 14, 2011 10:51 am
Họ tên đầy đủ: Trương Quốc Chính
Địa chỉ: P209, A12, Phường Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội
Họ Trương quê gốc ở: La Cầu,Mỹ Thọ, Bình Lục, Hà Nam
Điện thoại: 0913070587
Yahoo: quocchinh_cand
Đến từ: P209,A12, Phường Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Quốc Chính » T.Hai Tháng 12 19, 2011 9:35 am

Chào bạn Hiệp. Cũng như anh Tuấn đã viết, tôi xin nói thêm một chút, ngày trước cha ông chúng ta thường dùng tên Quý Công là tên gọi chung dành cho nam giới, biểu thị sự tôn kính, nó gần như chữ "Ông" mà ngày nay chúng ta đang sử dụng, còn phụ nữ thì được gọi chung là Quý thị, nó giống như chữ "Bà" ngày nay mà chúng ta đang sử dụng, ví dụ đàn ông họ Trương gọi Trương Quý Công, bà họ Trương gọi là Trương Quý Thị, rồi sau đó mới đến tên tự. Ngày nay chúng ta không dùng Quý Công và Quý Thị nữa, mà thay vào bằng Ông, Bà. Vì vậy khi tìm hiểu về cụ Thủy Tổ, hoặc các cụ tổ tiên của chúng ta, chúng ta tìm tên tự của cụ thì mới chính xác được, ví dụ tên của bạn là Trương Văn Hiệp thì sẽ gọi là Trương Quý Công tự Văn Hiệp. Có vài lời với bạn như vậy.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Hình đại diện của người dùng
Trương Tuấn
Thành viên
Thành viên
Bài viết: 30
Ngày tham gia: T.Bảy Tháng 3 12, 2011 1:25 pm

Xin Ý kiến giải đáp thắc mắc

Gửi bài gửi bởi Trương Tuấn » T.Tư Tháng 12 21, 2011 3:48 pm

Hiệp cố gắng đọc kỹ thêm bài sau để có thể dễ dàng hơn trong việc đọc và viết gia phả sau này:

"Tìm hiểu về danh, tự, hiệu của người xưa"

Thời xưa, ở Trung Quốc, tầng lớp quí tộc quan lại, ngoài họ tên chính thức do ông, bà, cha, mẹ đặt cho; khi lớn lên người ta thường đặt tên tự, tên hiệu và biệt hiệu.

Sách Từ nguyên mục Danh tự giải thích: “(Phiên âm): Cổ đại quí tộc thủy sinh hữu danh, nhị thập tuế thành nhân, hành quán lễ hựu gia tự, hợp xưng danh tự. Hậu lai tại tự chi ngoại, hựu hữu hiệu, hợp xưng danh hiệu. Tự xưng dụng danh, biệt nhân vi biểu thị lễ kính, dụng tự hoặc hiệu tương xưng.

Tham duyệt Lễ, Đàn cung thượng: “Ấu danh, quán tự”. Dịch nghĩa: Tầng lớp quí tộc thời xưa khi mới sinh thì đặt tên (danh), hai mươi tuổi trưởng thành thì làm lễ đội mũ và đặt thêm tên chữ (tự), gọi chung là danh tự. Về sau ngoài tên tự lại đặt hiệu, gọi chung là danh hiệu. Tên (danh) dùng để tự xưng, còn người khác muốn biểu thị sự tôn kính người mình gọi, thường gọi bằng tên tự hoặc tên hiệu.
...
Như vậy, người đời xưa thường có tên (danh), có tên chữ (tự) và có tên hiệu (hiệu), có người lại có cả biệt hiệu nữa. Việc đặt tên tự, tên hiệu và biệt hiệu ban đầu được sử dụng trong tầng lớp quí tộc; sau này được mở rộng, không chỉ có ở tầng lớp quí tộc mà cả các tầng lớp khác trong xã hội, như: quan lại, nho sĩ, các bậc tao nhân mặc khách, v.v...

Tên (danh) là tên riêng do ông, bà, cha, mẹ đặt cho. Việc đặt tên cũng có những phép tắc nhất định, như thời nhà Chu, cách đặt tên của tầng lớp quí tộc được qui định: trẻ nhỏ thường phải sau khi sinh ra được 1 tháng hoặc 100 ngày mới được đặt tên (danh). Thời cổ đại, tên người (danh) thường được đặt đơn giản và người ta lấy can chi đặt làm danh, đó có thể là có liên quan đến sự coi trọng thời gian của người đương thời. Sau này, theo sự phát triển của văn hóa và ngôn ngữ văn tự, tên người ngày càng được đặt một cách phong phú hơn. Hoặc có người lại cố tình đặt cho con những tên xấu để cho phù hợp với sự quan niệm là dễ nuôi và không bị chết yểu.

Tên chữ (tự) thường là giải thích và bổ sung cho danh, giữa danh và tự có mối liên hệ chặt chẽ về ý nghĩa, biểu thị sự hô ứng và bổ sung cho danh, nên còn được gọi là biểu tự. Tên tự được đặt khi đã thành niên và thường do cha mẹ hoặc bề trên đặt cho, cũng có khi do chính bản thân tự đặt. Việc đặt tên tự là chứng tỏ người đó bắt đầu được mọi người trong xã hội công nhận và tôn trọng.

Khi đặt tên tự, người ta thường căn cứ vào danh để chọn từ tương ứng mang ý nghĩa liên quan và phụ trợ cho danh, như: Gia Cát Lượng nhà Thục thời Tam quốc, tự là Khổng Minh (lượng là sáng còn khổng minh là rất sáng); Bao Chửng thời Bắc Tống, tự là Hy Nhân (chửng là cứu giúp còn hy nhân là mong làm điều nhân), v.v...

Có trường hợp tự và danh được lấy câu chữ trong cổ thư, như Tào Tháo nhà Hán thời Tam quốc, tự là Mạnh Đức lấy từ câu trong Tuân Tử: “phù thị chi vị đức tháo” (dịch nghĩa: đó là phẩm hạnh của đức), v.v. Lại có người lấy tên tự ngược hẳn nghĩa với danh, như: Chu Hy đời Tống, tự là Nguyên Hối và Trọng Hối, hiệu là Hối Am (hy là sáng còn hối là tối), v.v. Ngoài ra, còn có tiểu tự, tức nhũ danh (tên gọi khi còn bú mẹ), như: Tào Tháo có tiểu tự là A Man, Lưu Thiện có tiểu tự là A Đẩu, v.v...
Danh và tự của người xưa còn được dùng để chỉ quan hệ thứ bậc trong gia tộc, biểu thị anh em trong gia đình, và người ta thường có thêm chữ bá ( hoặc mạnh) là lớn, trọng là thứ hai, thúc là em, quý là út; như Bá Di, Thúc Tề, Trọng Hối, Mạnh Đức, v.v..

Tên hiệu (hiệu) là tên gọi được đặt khi người ta đã thực sự trưởng thành, các sĩ phu và văn nhân thời phong kiến thường có tên hiệu hoặc biệt hiệu của mình, như: Lý Bạch thời Đường lấy hiệu là Thanh Liên Cư sĩ , Đỗ Phủ thời Đường lấy hiệu là Thiếu Lăng Dã Lão , Vương An Thạch thời Tống lấy hiệu là Bán Sơn , v.v...

Tên hiệu là do người sử dụng tự đặt, không hề bị chi phối bởi gia tộc, thứ bậc trong gia đình. Thông qua việc đặt tên hiệu, hoặc biệt hiệu, người ta có thể tự do gửi gắm tư tưởng và tình cảm, biểu lộ chí hướng và hoài bão, thể hiện sở thích của mình trong cuộc sống. Việc đặt tên hiệu hoặc biệt hiệu đôi khi còn để mang dấu ấn địa phương, quê hương bản quán của mình.

Một người có thể thay đổi khá nhiều tên hiệu hoặc biệt hiệu, và thông qua sự thay đổi này có thể hiểu được quan niệm sống, tâm tư tình cảm và tư tưởng của người đó trong cuộc sống ở các thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, trong lịch sử cũng có người chọn hiệu hoặc biệt hiệu chỉ là học đòi làm sang, chứ không hề phù hợp với thân thế và sự nghiệp của họ chút nào.

Nằm trong khu vực ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, Việt Nam vào thời kỳ phong kiến, các nhà Nho, nhà thơ, nhà văn, hàng ngũ quan lại, ngoài tên (danh) ra cũng đặt tên tự và tên hiệu hoặc biệt hiệu, dựa theo những nguyên tắc của Trung Hoa.
...
Danh, tự và hiệu hay biệt hiệu tuy đều là tên người, nhưng khi sử dụng không thể tùy tiện mà phải tuân theo phép tắc nhất định. Do người xưa rất trọng lễ nghĩa, cách dùng danh, tự và hiệu cũng rất cầu kỳ. Trong giao tiếp, danh thường dùng trong trường hợp khiêm xưng, hoặc trên gọi dưới, còn những người ngang hàng chỉ gọi danh khi thật thân mật. Khi không được phép mà gọi thẳng danh của người đang nói chuyện là bất lễ, danh của cha mẹ mà nhắc tới là bất kính, còn danh của vua chúa mà nhắc tới là đại nghịch. Tự và hiệu dùng trong trường hợp người dưới gọi người trên, hoặc những người ngang hàng nhau. Như người đời thường gọi Nguyễn Trãi là Ức Trai Tiên sinh, gọi Nguyễn Thiếp là La Sơn Phu tử, gọi Lê Hữu Trác là Hải Thượng Lãn Ông, Ngô Thời Sĩ có đạo hiệu là Nhị Thanh Cư sĩ, v.v...

Danh, tự và hiệu hoặc biệt hiệu, ngoài việc dùng trong giao tiếp, người ta còn dùng để đặt tên cho các trước tác của người đó, như: Chu Văn An đã được dùng tên hiệu để đặt cho các tên sách: Tiều ẩn thi tập (nay chưa tìm thấy), Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (nay chưa tìm thấy). Trần Nguyên Đán đã được dùng tên hiệu để đặt tên sách: Băng Hồ ngọc hác tập (nay chưa tìm thấy). Ngô Thì Nhậm đã được dùng tên tự để đặt tên sách: Ngô gia văn phái Hy Doãn công tập, Hy Doãn công di thảo . Nguyễn Thiếp đã được dùng các tên hiệu để đặt cho các tên sách: Hạnh Am di văn , Lạp Phong văn cảo . Nguyễn Tư Giản đã được dùng tên tự và tên hiệu để đặt cho các tên sách: Nguyễn Tuân Thúc thi tập , Thạch Nông thi tập , Thạch Nông toàn tập , Thạch Nông văn tập . Cách ghép tên tự và tên hiệu vào tên sách như vậy, là cách làm phổ biến, nhưng cũng đặt ra những vấn đề cho người đời sau khi tìm hiểu về tác gia và tác phẩm Hán Nôm.

Như vậy, khi gọi và khi viết về người khác, người xưa rất ít khi nêu thẳng tên (danh) mà thường thay bằng tên tự hay tên hiệu hoặc biệt hiệu. Chính điều đó đã gây ra nhiều khó khăn cho thế hệ ngày nay khi nghiên cứu tìm hiểu về người xưa, nhất là đối với các tác gia Hán Nôm cùng các văn bản viết bằng chữ Hán và chữ Nôm hiện còn được lưu giữ đến ngày nay. Bởi vì tên tự và tên hiệu của các tác gia nhiều khi trùng nhau và không biết được đó là ai. Ví dụ như từ “Đạm Trai”, theo sự thống kê của chúng tôi có đến 6 tác gia Hán Nôm lấy để đặt tên hiệu cho mình; hay từ “Tĩnh Trai”, theo sự thống kê của chúng tôi cũng có đến 7 tác gia Hán Nôm lấy để đặt tên hiệu cho mình. Để góp phần tìm hiểu vấn đề danh, tự, hiệu và biệt hiệu ở Việt Nam; chúng tôi nghĩ nên biên soạn cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm, nhằm làm rõ được tên (danh), tên tự và tên hiệu hoặc biệt hiệu của các tác gia Hán Nôm, giúp độc giả tiện đường tham khảo."

Trịnh Khắc Mạnh
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 3 (52), năm 2002
(http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0203.htm)
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Trả lời