Trương Bá Cần - Người hai họ

Tin tổng hợp
Trả lời
Hình đại diện của người dùng
Trương Quang Thông
Quản lý Nội dung
Quản lý Nội dung
Bài viết: 871
Ngày tham gia: T.Tư Tháng 3 02, 2011 11:49 pm
Họ tên đầy đủ: Trương Quang Thông
Địa chỉ: Phường Thống Nhất- TP Biên Hòa- Đồng Nai
Họ Trương quê gốc ở: Quảng Ngãi
Điện thoại: 0903989432
Yahoo: denro_bium
Đến từ: Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Liên hệ:

Trương Bá Cần - Người hai họ

Gửi bài gửi bởi Trương Quang Thông » T.Bảy Tháng 6 01, 2013 3:36 pm

Trương Bá Cần (tên thật: Trần Bá Cường, 1930-2009) là một linh mục Công giáo người Việt, từng giữ các chức vụ: ủy viên đoàn Chủ tịch của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam; phó chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh; phó chủ tịch, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và tổng biên tập Báo Công giáo và Dân tộc.
Linh mục Trương Bá Cần.JPG

Trương Bá Cần sinh ngày 13 tháng 7 năm 1930 tại Hương Khê, Hà Tĩnh, tên thánh là Phêrô. Năm 1958, ông được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Đức Bà Paris, Pháp.

Từ năm 1964 đến 1975, Linh mục Trương Bá Cần tham gia nhiều hoạt động chống chiến tranh Việt Nam, chống độc tài, kêu gọi hòa bình, đòi dân chủ dân sinh, đấu tranh cho quyền lợi của giới công nhân, chống đàn áp và tra tấn sinh viên. Cũng trong khoảng thời gian này, ông là tổng tuyên úy của Phong trào Thanh niên Lao động Công giáo (Thanh Lao Công) của miền nam Việt Nam.

Sau năm 1975, Linh mục Trương Bá Cần là thành viên trong ban chủ trương của báo Công giáo và Dân tộc (không thuộc Giáo hội Công giáo), từ tháng 3-1976 làm phó tổng biên tập, từ 1991 là Tổng Biên tập Báo Công giáo và Dân tộc. Ông từ trần ngày 10-7-2009, hưởng thọ 79 tuổi.

Linh mục Trương Bá Cần đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng III, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, Huy chương Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam.

Như chính ông viết trong cuốn “Hồi ký : “50 Năm Nhìn Lại : 1958 – 2008” ( tức là viết về Đời Linh mục cuả ông) xuất bản năm 2008 tại Saigon, tên của ông là Trần Bá Cường với người anh là Trần Bá Đường. Ông tu học từ nhỏ tại chủng viện của giáo phận Vinh, và từ 1953, được giáo hội gửi đi du học tại Pháp. Nhưng từ khi ở Pháp về nước năm 1963, thì ông lấy tên là Trương Bá Cần. Ông có tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ : Con người và Di thảo” xuất bản năm 1988 tại Saigon, mà được nhiều người đánh giá là một công trình sưu khảo có giá trị khoa học, xứng đáng với một nhà sử học được đào tạo vững vàng tại Đại học Sorbonne thuộc lọai hàng đầu của nước Pháp.

I- Linh mục Trương Bá Cần-người hiến thân làm nhịp cầu nối hai bờ đạo- đời

Để nối hai bờ sông, rạch, người ta làm những cây cầu. Tuỳ theo độ rộng của sông mà công sức, tiền của làm cây cầu bỏ ra nhiều hay ít. Nhưng cũng có những khúc sông không rộng như sông Bến Hải (Quảng Trị) nhưng cây cầu Hiền Lương bắc qua nó phải mất nhiều năm tháng và đổ ra không ít máu xương của cả dân tộc.

Trong lĩnh vực xã hội, có không ít những dòng sông vô hình được tạo dựng nên do kinh tế, chính trị, dân tộc, tôn giáo … để ngăn cách con người với con người. Nếu cuộc chiến tranh lạnh ở thế kỷ XX đã chia loài người thành hai phe địch – ta rất khắc nghiệt thì về mặt tôn giáo, nhiều nơi, các tín đồ cũng buộc phải lựa chọn một trong hai chiến tuyến: đạo hay đời. Do vị trí địa chính trị của mình nên Việt Nam sớm trở thành tiêu điểm của lịch sử và từ cuối thế kỷ XIX sự phân cực càng trở nên căng thẳng, gay gắt hơn. Người Công giáo Việt Nam bị đẩy vào một tình thế nan giải: theo đạo thì phải quay lưng lại với dân tộc và sau này là phải chống lại cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo và ngược lại thì mất đạo. Nỗi băn khoăn, day dứt bám theo nhiều người Công giáo Việt Nam suốt cả một thời gian dài. Đức Giám mục Bùi Tuần đã chia sẻ rằng: “ Một đàng độc lập dân tộc và hoà hợp dân tộc luôn là lý tưởng tôi khao khát. Một đàng chống cộng lại là mệnh lệnh của Bề trên trong đạo mà tôi phải vâng. Khó khăn lớn nhất là ở chỗ: thời điểm tập trung vào việc giành độc lập và xây dựng đoàn kết chống ngoại xâm lại do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Có những lúc lương tâm tôi cảm thấy diễn ra xung đột gay gắt. Xung đột có chiều sâu thăm thẳm và chiều rộng mênh mông. Xung đột lại kéo dài từ năm này qua năm khác”.

Vậy là đã có một dòng sông sâu thăm thẳm, rộng mênh mông chia cắt đạo- đời. Ai sẽ làm nhịp cầu nối hai bờ xa cách đó?

Trong lịch sử Việt Nam cũng như của chính đạo Công giáo đã có những con người dũng cảm đứng ra làm nhịp cầu nối hai bờ đạo- đời. Nguyễn Trường Tộ (1830- 1871) là một người như vậy. Trong khi triều đình nhà Nguyễn thi hành chính sách hà khắc với đạo Công giáo, Nguyễn Trường Tộ vẫn dốc tâm huyết dâng lên triều đình 58 bản điều trần những mong làm cho nước mạnh, dân cường đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp. Ông nhẹ nhàng nhưng không kém sâu sắc khi can gián vua về chính sách cấm đạo: “Xét ra đạo Công giáo vào nước ta từ thời nhà Lê… lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo (Phật, Lão, Khổng) tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, năng lui tới nhau, không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghét ghen kỳ thị nhau, do ghen ghét mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly thất sở mà mắc vào hình phạt. Nước vốn trong, có khuấy lên mới bị đục, nếu ngừng lại, chốc lát sẽ trở lại trong” (2). Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, coi ông là “người Công giáo yêu nước, nhà cải cách táo bạo, nhà triết học lớn có tư duy vượt thời đại”…song ít người biết ông phải mang bi kịch khi đứng ra làm nhịp cầu giữa đạo và đời hồi đó. Triều đình không tin ông vì ông là người Công giáo lại còn làm phiên dịch cho Tổng chỉ huy quân viễn chinh người Pháp là Leonardo Saclo trong cuộc hoà đàm năm 1862 tại Gia Định làm mất 6 tỉnh Nam Bộ. Người Công giáo chẳng tin ông vì ông dám đưa ra tư tưởng táo bạo là đề nghị Toà thánh rút hết giáo sĩ người Pháp về giao lại giáo hội Việt Nam cho người Việt Nam. Các môn sinh đồng khoá Nho học với ông thì chỉ trích ông đã phản bội thày dạy làm cho ông phải thốt lên: “ Ta đã sai lầm chăng? Nếu hồi đó không nhận làm thông ngôn cho Saclo thì hôm nay bạn bè có dám khinh thường ta như thế không? Sự hiểu lầm của triều đình, của nhân dân lương, giáo, của quân Pháp không có gì đang sợ. Sự hiểu lầm của bạn bè hôm nay mới khủng khiếp làm sao!” (3). Cái bi kịch dồn nén, chất chứa trong ông lâu ngày, nay vỡ ra. Ông ho dữ dội, nôn ra máu và trút hơi thở cuối cùng đêm 10 tháng 10 năm Tân Mùi (1871).

Khi tìm hiểu về những bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, tôi cứ hay nghĩ về linh mục Trương Bá Cần. Bởi lẽ, hai người có nhiều nét tương đồng. Cả hai cùng quê ở Nghệ Tĩnh. Nguyễn Trường Tộ là tác gia mà linh mục Trương Bá Cần đã giành nhiều tâm huyết để nghiên cứu để cho ra mắt cuốn sách năm 1988: “ Nguyễn Trường Tộ- con người và di thảo”. Đây là một ấn phẩm công phu rất có giá trị cho giới học thuật mà bất kỳ ai tìm hiểu về Nguyễn Trường Tộ đều phải đọc. Và cả hai đều đã chấp nhận những bi kịch về phần mình khi tự hiến thân làm nhịp cầu nối hai bờ đạo- đời.

Nhìn bề ngoài, thấy linh mục Trương Bá Cần cũng được vinh danh đủ cả. Nào huân huy chương các loại, nào giữ ghế Tổng biên tập báo Công giáo và dân tộc cả một thời gian dài (1991-2009), rồi Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó chủ tịch MTTQ Thành phố Hồ Chí Minh… Còn trong lễ an táng của linh mục tại nhà thờ Vườn Xoài thì quá trọng thể và đủ cả quan chức đạo, đời. Ông Lê Thanh Hải - Uỷ viên Bộ chính trị, Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh đến viếng và ghi vào sổ tang: “ Vô cùng thương tiếc linh mục Trương Bá Cần, người đã có nhiều đóng góp cho phong trào đấu trang giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nước cùng sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn cũng ghi vào sổ tang: “ Cảm ơn Cha đã đóng phần của Cha vào công cuộc xây dựng Giáo hội và đất nước”… Thật là tốt đạo, đẹp đời.

Cái khó và cũng dễ bị nghi ngờ cho những người làm cầu nối là họ phải cố gắng làm cho bên này hiểu bên kia, cả cái tốt và cái chưa tốt. Nhiều khi họ cũng phải lên tiếng phê phán bên này, chỉ trích bên kia không với ác ý mà chỉ muốn đục đẽo mỗi bên một lỗ mộng để hai khúc gỗ vốn chẳng dính líu với nhau nay có thể nối chắc với nhau như kèo với cột.

Trong suốt cuộc đời làm linh mục, làm sử gia, làm nhà báo của mình, linh mục Trương Bá Cần đã làm cái việc nối kết đó.

Chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi đọc lại nhiều bức thư không niêm của linh mục Trương Bá Cần gửi các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước. Không có lòng dũng cảm không viết được những lá thư như vậy. Ví dụ, trên nguyệt san “ Công giáo và dân tộc” số tháng 1-1995, linh mục Trương Bá Cần đề nghị các vị lãnh đạo Nhà nước “cho xét duyệt và biên tập lại các sách giáo khoa nói về tôn giáo, đặc biệt xin xét duyệt và biên tập lại chương XI trong cuốn sách “Chủ nghĩa cộng sản khoa học”, Giáo khoa Trung cấp do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn và đang lưu hành ”, trong đó linh mục đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể. Phải là người đọc nhiều, nghĩ nhiều đến con đường hoà hợp dân tộc mới có thể kiến nghị được xác đáng như thế. Bây giờ, nói như vậy không có gì ghê gớm cả nhưng 30 năm trước thì xôn xao lắm. Sách giáo khoa là công cụ truyền bá kiến thức và quan điểm của Nhà nước. Nói “xét duyệt và biên tập lại”, có nghĩa là yêu cầu Nhà nước xét lại quan điểm về tôn giáo. Quá to gan. Nhưng có gì vô lý và rất đáng ngờ khi Đảng Nhà nước kêu gọi các tôn giáo đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc nhưng trong sách báo chính thống lại luôn coi tôn giáo “ là thù địch, phản động, mê tín dị đoan”. Kiến nghị như thế, người có đạo nghe sướng cái bụng nhưng chắc các nhà quản lý tôn giáo không ưng lắm.

Trước đây các thông tin chính trị xã hội “ có tính nội bộ” nhất là về tôn giáo đều là loại “ mật” nên tin tức loan truyền chủ yếu theo con đường truyền miệng, vỉa hè. Mà chuyện vỉa hè cũng có cái đúng, cái sai thất thiệt rất phức tạp. Với tư cách là tờ báo của giới Công giáo, những năm linh mục Trương Bá Cần lãnh đạo, tờ Công giáo và dân tộc cũng có một cách tiếp cận thông tin và hướng dẫn dư luận bằng cách “bạch hoá” các tin đồn thổi. Ví dụ sau cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn Toà thánh và quan chức Việt Nam tháng 4-1995, không có thông báo báo chí. Tin tức hai bên đưa ra thì nhỏ giọt và trái ngược nhau. Phía Việt Nam cho rằng “hai bên đã thông báo cho nhau về những vấn đề liên quan đến giáo hội Công giáo Việt Nam và những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm, trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau” ( Báo Nhân dân ngày 5-4-1995). Còn phía Đức ông Claudio Celli- Trưởng đòan của Vatican thì nói “Đây là một tai nạn trên đường đi của chúng tôi” (Radio Vatican ngày 4-4-1995). Trước tình hình đó, linh mục Trương Bá Cần đã viết bài “Kính mong Ban Tôn giáo giải thích cho dư luận” (Nguyệt san CG&DT số 4-1995). Bài viết khá dài, người đọc sẽ thích thú vì quá nhiều thông tin nhưng chắc cả phía Nhà nước và giáo hội đều không thích vì còn nhiều vấn đề chưa thể công khai được. Giai đoạn này, vấn đề bức xúc nhất từ phía cộng đoàn Công giáo là cả ba Tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh đều trống toà. Phản ánh bức xúc này linh mục Trương Bá Cần với bút danh Hương Khê đã viết: “ Cộng đồng dân Chúa ở Việt Nam có quyền đòi hỏi Giáo quyền và Chính quyền giải thích rõ về một tình hình không bình thường là tất cả ba Tổng giáo phận ở Việt Nam chỉ có Giám quản Tông toà( tức chủ chăn tạm thời). Bởi vì cuối cùng, chỉ có người Việt Nam Công giáo ở Hà Nội, ở Huế và ở Thành phố Hồ Chí Minh là bị thiệt hại do những tính toán của Toà thánh Vatican hay của Nhà nước Việt Nam mà thôi”.

Với bằng TS sử học của đại học danh tiếng Sorbonne ( Pháp), linh mục Trương Bá Cần say mê nghiên cứu lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam. Đi đến đâu, linh mục cũng chịu khó sưu tầm tư liệu, chứng tích nhất là thời kỳ cấm đạo của nhà Nguyễn. Cả một núi tài liệu được gom nhặt nhưng cuốn “Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam” với gần 2000 trang in khổ lớn mãi vẫn không được cấp phép in. Có người lo ngại, chuyện đau buồn quá khứ đã qua, vết thương đã lành, không nên đào bới lên nữa. Nhưng sử gia phải có nhiệm vụ ghi chép lại cho hậu thế các sự kiện lịch sử đã xảy ra và càng để lâu, càng khó dựng lại vì mất dấu vết. Còn gì đau buồn hơn khi đứa con tinh thần của mình thai nghén mãi không được sinh ra. Cuốn sách phải xé lẻ, in dần trên phụ trang Nguyệt san CG&DT cả một thời gian dài. Cũng may là năm 2008, nó được cấp phép, in ấn khá đẹp và tác giả còn kịp trông thấy trước khi nhắm mắt.

Nhiều sự kiện nhạy cảm có nguy cơ làm rạn nứt quan hệ đạo- đời nhưng linh mục Trương Bá Cần không hề tránh né. Linh mục đề cập đến nó với tư cách là nhà nghiên cứu vừa với bổn phận công dân vừa với trách nhiệm người linh mục nhưng đôi khi vẫn phải chịu những trận cuồng phong của dư luận Công giáo. Ví dụ bài “ Về Toà Khâm sứ Hà Nội” đăng trên báo CG&DT số 1646 ngày 29-2-2008. Bây giờ nếu bình tĩnh đọc lại những dòng này: “ Toà Khâm sứ ở Hà Nội đang do Nhà nước quản lý trên nguyên tắc khi quan hệ ngoại giao được thiết lập giữa Việt Nam và Toà thánh, vấn đề trao trả sẽ được đặt ra. Nhưng hiện nay khi quan hệ ngoại giao chưa được thiết lập, Hội đồng GMVN hay Toà TGM Hà Nội nếu thực sự có nhu cầu cũng có thể xin Nhà nước giao cho mình quản lý bởi vì Hội đồng GMVN hay Toà TGM Hà Nội đều là những tập thể có tư cách và điều kiện để quản lý”, nhiều người chắc cũng có thể chấp nhận cũng như bài phát biểu của TGM Hà Nội Ngô Quang Kiệt nói ở Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội ngày 20-9- 2008, một trang báo điện tử sau đó đã thăm dò ý kiến và cho kết quả là 95,2% người đồng ý với TGM Kiệt, chỉ có 4,2% phản đối nhưng khi đó cả một làn sóng phản đổi TGM Kiệt đã nổ ra trên các phương tiện truyền thông. Trong bối cảnh đó, sự phản ứng với bài báo của linh mục Trương Bá Cần cũng là điều dễ hiểu.

Tôi cũng có không ít lần được tiếp xúc với linh mục Trương Bá Cần. Đó là một người kiệm lời và cẩn trọng nhưng sắc sảo. Tôi viết báo Người Công giáo Việt Nam từ thời còn là báo Chính nghĩa nhưng bạn đọc biết tên nhiều khi bài của tôi được đăng trên báo CG&DT. Ví dụ các bài “ Thông thoáng Bùi Chu”, “ Phát Diệm một lần về thăm”, “Tôn giáo một tiềm năng chưa được khai thác, một thực tế bị né tránh”…lúc đầu tôi viết gửi báo Người Công giáo Việt Nam nhưng không thấy đăng, tôi lấy lại gửi cho linh mục Trương Bá Cần và được in liền. Nhiều xứ ở Bùi Chu, Phát Diệm đã đọc bài báo trên trong nhà thờ. Bởi vậy, tôi thầm cảm ơn linh mục Trương Bá Cần đã làm bà đỡ cho những bài báo của tôi.

Trong khi chuẩn bị văn kiện cho đại hội V của Uỷ ban ĐKCGVN cuối năm 2008, một linh mục được giao soạn thảo. Linh mục đó có ý tưởng khá sâu sắc nhưng về hình thức không theo form của một bản báo cáo nhưng rất khó góp ý để tác giả chỉnh sửa. Một linh mục gợi ý với chúng tôi: phải nhờ linh mục Trương Bá Cần. Chúng tôi bay đi thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề được giải quyết hết sức chóng vánh. Chúng tôi lại phải cảm ơn linh mục Trương Bá Cần.

Linh mục Trương Bá Cần bây giờ đã là nhân vật của lịch sử, của công chúng.

II- Trương Bá Cần - người linh mục dấn thân

- Trong lời tiễn biệt dành cho linh mục Trương Bá Cần, linh mục Phan Khắc Từ (Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Đoàn kết Công giáo VN) đã nói: "Linh mục Cần là một linh mục xác tín và nhiệt thành về ơn gọi làm người, làm con của quê hương và làm con của Giáo hội".

Nhìn lại cuộc đời hoạt động nhiệt thành của ông, linh mục Phan Khắc Từ nói: "Cha là một linh mục, một sử gia nên xác tín được dựa trên nền tảng vững chắc của Thần học cũng như trải nghiệm lịch sử. Cộng thêm đó là phẩm chất Xứ Nghệ trong huyết quản, nên lòng nhiệt thành thể hiện qua các hành động hăng say".

"Dấn thân"

Trong cuốn sách tự thuật "50 năm nhìn lại" mới xuất bản năm 2008, linh mục Trương Bá Cần kể: tháng 11/1971, ông cùng với các linh mục Phan Khắc Từ, Trần Thế Luân tham gia cuộc đấu tranh của công nhân Hãng pin Con Ó. Họ bị bắt cùng với rất nhiều công nhân, rồi được thả. Nhưng các linh mục đã ngồi tuyệt thực trên lề đường Nguyễn Trã đòi trả tự do cho công nhân đang bị cầm tù

Ông nhớ lại, "chúng tôi ngồi tuyệt thực ngay Tòa Tổng Giám mục vì hôm đó, Đức Tổng Giám mục chuẩn bị cử hành lễ Hòa bình thế giới, có sự tham gia đông đảo của quan chức chính quyền. Một chính quyền đang bắt bớ người lao động và chà đạp lên công lý lại đi cầu nguyện vì hòa bình?".

Sự kiện này gợi lên trong lòng ông những trăn trở về sứ mệnh dấn thân của người linh mục. "Anh em chúng tôi đã lăn xả vào với công nhân, không phải ngây thơ không biết rằng mình đang cụng đầu vào đá... Giáo hội vẫn quen đứng trên, đứng ngoài, xông xáo lắm là đứng giữa. Nhưng chúng tôi đã đứng hẳn về một bên".
Chính vì nếm trải tất cả những bất công của xã hội, nhận thức được tính phi lý của chiến tranh, nên ông sẵn sàng xuống đường đấu tranh với công nhân đòi dân sinh, liên kết với sinh viên đòi dân chủ. "Giáo hội của chúng tôi phải là giáo hội đứng về phía người nghèo, những người bị cô thế, chống lại mọi hình thức bất công".

Nhớ đến ông là người ta phải nhớ đến cuộc vận động đốt thẻ cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 10/1971. Ông cũng dành phòng của mình ở Giáo xứ Vườn Xoài cho anh em sinh viên chế tạo bom xăng đốt xe Mỹ.

Hai lần ông đã bị Tòa án Quân sự kết án tù, một lần 5 năm cấm cố và một lần 9 tháng tù giam.
Linh mục Trương Bá Cần đã sống và tham gia vào một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, trong thời kỳ phong trào đô thị chống chiến tranh xâm lược diễn ra sôi nổi ở Sài Gòn trước 1975. Phong trào quy tụ từ học sinh, sinh viên đến trí thức, các chức sắc tôn giáo...

Trong hồi ký đời mình, viết về giai đoạn này, linh mục Trương Bá Cần trăn trở: "Quyền dân sinh, dân chủ là những quyền cơ bản của con người, không một chế độ chính trị nào dám phủ nhận. Quyền đó thường chỉ được tôn trọng khi chế độ chính trị thực sự là của dân, do dân, vì dân".

"Đồng hành cùng dân tộc"...

Là tiến sĩ sử học Sorbonne (Pháp), linh mục Trương Bá Cần còn được biết đến với những nghiên cứu lịch sử đáng chú ý.

Đó là loạt bài báo mang tính chất nghiên cứu “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” đăng ba kỳ trên tạp chí Đối Diện vào năm 1971, gây ra những phản ứng cho giới cầm quyền. Loạt bài đã nỗ lực phác họa một bức tranh chân thực về miền Bắc sau chiến tranh.

Trong dư luận có những luồng ý kiến khác nhau, hoặc tán thưởng, hoặc chưa đồng tình với những luận điểm linh mục Cần đưa ra. Nhưng sự kiện tác giả và chủ nhiệm báo phải ra tòa và lĩnh án 9 tháng tù giam đã dấy lên những tranh luận công khai trên báo chí. Tạp chí Đối Diện bị đóng cửa trong thời hạn 6 tháng, vì tội “viết bài với dụng ý tuyên truyền cho Cộng sản”.

Một năm sau sự kiện này, linh mục Cần đã dành trọn một số tập san Chọn, do ông chủ trương để đăng lại các bài báo này của ông và cả hai bản Khởi tố trạng của phó Biện lý, một số bài báo và dư luận liên quan để từ đó dư luận tự đánh giá sự việc.

Ông cũng dành tâm huyết nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ. Nói như nhà sử học Chương Thâu: "Trương Bá Cần là người từng theo dõi, tìm hiểu Nguyễn Trường Tộ từ khi còn học ở Chủng viện Xã Đoài, gần quê hương của Nguyễn Trường Tộ. Anh lại có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu. Anh vừa là một nhà khoa học, vừa là một linh mục đầy lòng ngưỡng mộ đối với người công giáo yêu nước Nguyễn Trường Tộ".
Trong lời tiễn biệt dành cho ông, linh mục Phan Khắc Từ nhắc lại việc, ngay cả những người cộng sự thân tình cũng có những lúc không hiểu ông, không muốn chấp nhận ông với vai trò linh mục.
Ngay bản thân linh mục Cần cũng tự xem mình là “người đầy tớ vô dụng”, là “đứa con hoang đàng” của Giáo hội.

Nhưng những hành động trong suốt cuộc đời ông đã luôn đi theo một niềm tin do ông xác lập, đó là, với lòng yêu nước, ông đã xác định người Công giáo cũng là công dân Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc.
Ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đã ghi vào sổ tang : “Vô cùng thương tiếc linh mục Trương Bá Cần, người đã có nhiều công lao đóng góp trong phong trào giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ….”.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc đời chỉ là một giấc mộng !

Trả lời