Cộng đồng Họ Trương Việt Nam

http://hotruong.net


Long Vân hầu Trương Tấn Bửu - Danh tướng của Chúa Nguyễn Ánh

Trương Tấn Bửu (Chữ Hán: 張進寶, Trương Tiến Bảo; 1752 - 1827), có tên khác là Trương Tấn Long (張進隆, Trương Tiến Long); là một danh tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh trong lịch sử Việt Nam. Nhờ lập được nhiều công lao, ông được phong tước Long Vân Hầu và được người đương thời liệt vào Ngũ hổ tướng của Chúa Nguyễn.
Lăng mộ của Long Vân hầu Trương Tấn Bửu tại đường Nguyễn Thị Huỳnh, TPHCM
Ông sinh ở làng Hưng Lễ, tổng Bảo Phước, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre); Ông là con thứ ba trong số 7 người con của ông Trương Tấn Khương và bà Trần Thị Nghĩa. Thời trai trẻ, Trương Tấn Bửu đã nổi tiếng là người tuấn tú, có sức mạnh vô song, dám đương đầu với cọp dữ.

Năm Đinh Mùi (1787), lúc chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, đánh tan tác phải bỏ chạy trong đêm và lạc tới làng của Trương Tấn Bửu. Vị vua cùng tùy tùng đói lả, gõ cửa nhà ông Bửu xin ăn.

Cha ông Bửu là Trương Tấn Khương thương người nên vừa mời cơm vừa cho họ ngủ nhờ. Do lạc mất quân tướng nên Nguyễn Ánh xin ông Khương ở lại sinh sống, làm ruộng một thời gian. Cha con Trương Tấn Bửu thấy Nguyễn Ánh khác người nên gặng hỏi, vua đã thổ lộ danh tính.

Ông Khương sau đó gửi gắm Trương Tấn Bửu (lúc này đã 35 tuổi) cho chúa để theo phò giá. Thấy ông có sức khỏe, thông minh lại hàm ơn gia đình giúp đỡ trong hoạn nạn nên Nguyễn Ánh nhận lời. 

Vừa đưa chúa Nguyễn ra khỏi nhà, Trương Tấn Bửu phải đối mặt quân Tây Sơn phục sẵn. Quân ít, ở thế yếu nên họ vất vả chống đỡ. Toàn bộ quân tướng nhà Nguyễn lúc bấy giờ rơi vào nguy cơ bị Tây Sơn bắt giết. Tuy nhiên, do quen thuộc địa bàn, ông Bửu vung đao tả xung hữu đột bảo vệ chúa giữa muôn trùng vây. Nhờ tài trí, ông đưa Nguyễn Ánh trốn thoát.

Sau đó, Trương Tấn Bửu được phong chức Khâm sai đốc chiến cai cơ, thuộc đạo quân của Tôn Thất Hội đến tháng 6 năm Canh Tuất (1790), ông được thăng chức Hậu quân Hậu chi Chánh chưởng chi, rồi đổi qua Chưởng quản Tiền quân. Ông được Nguyễn Ánh cho ban tên Long, khi phong hầu nên gọi là Long Vân Hầu.

Tháng 2 năm Đinh Tỵ (1797), với sự giúp đỡ của các tàu chiến của Bồ Đào Nha, cũng như lợi dụng sự rối ren của Nhà Tây Sơn khi vua Quang Trung băng hà, ông lập được nhiều chiến công ở Bình Định, Hội An, được thăng chức Tiền quân Phó tướng.

Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi (Gia Long), phong ông làm Chưởng dinh, quản lĩnh đạo quân Bắc Thành.

Năm 1806, có công dẹp bọn cướp biển Tàu Ô, ông được thăng làm Trung quân kiêm Tả quân Phó tướng, quyền lãnh chức Tổng trấn Bắc Thành, thay Nguyễn Văn Thành.

Năm Canh Ngọ (1810), ông lại được bổ vào Gia Định, quyền lãnh chức Tổng trấn, đến năm 1812, ông vào nam nhận chức Phó tổng trấn Gia Định thành (dưới quyền Nguyễn Văn Nhơn), rồi xuống tận Châu Đốc lo việc xây thành đắp lũy, lại được triệu về kinh đô Huế nhận chức Trung quân phó tướng trông coi việc xây dựng Thái Miếu. Năm 1821, lại được cử làm Phó tổng trấn Gia Định thành lần 2 (dưới quyền Lê Văn Duyệt).

Năm Nhâm Ngọ (1822), ông được thăng Chánh nhất phẩm, cha ông cũng được vua Minh Mạng ban sắc truy phong là Nghiêm oai tướng quân, Trung quân Thống chế và mẹ ông cũng được truy phong vào hàng mệnh phụ phu nhân.
 
Kinh Vĩnh Tế ở miền Tây do Trương Tấn Bửu góp công sức khai lập. Ảnh: Bùi Nguyên Đào Thụy
Kinh Vĩnh Tế ở miền Tây do Trương Tấn Bửu góp công sức khai lập. Ảnh: Bùi Nguyên Đào Thụy

Năm Quý Mùi (1823), theo lệnh của Lê Văn Duyệt, ông chỉ huy khoảng 35.000 quân và dân lo nạo vét kênh Vĩnh Tế cùng với Thoại Ngọc Hầu, rồi chẳng bao lâu sau ông bệnh, xin về hưu vào ngày 17 tháng 11 năm Ất Dậu (1825).  Tuy hưu trí, nhưng ông được vua Minh Mạng cho hưởng lương bổng đầy đủ.

Ông làm quan suốt 40 năm (trải 2 đời Gia Long, Minh Mạng), mất ngày  2 tháng 8 năm 1827 (10 tháng 6 âm lịch năm Đinh Hợi) hưởng thọ 75 tuổi. Vua nhà Nguyễn đã lệnh cho Lê Văn Duyệt đứng làm chủ lễ, cấp đất chôn và xuất hai ngàn quan tiền, năm cây gấm tốt để giúp vào việc tống táng. Đến đời Tự Đức năm thứ 5 (1852), ông được thờ vào miếu Trung hưng công thần và đền Hiền lương.

Mộ và đền thờ của ông hiện nay ở số 41 đường Nguyễn Thị Huỳnh - Phường 8, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác giả bài viết: Hồng Quân

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây