Gia phả & nguồn gốc một số họ tộc của vùng Thuận Hóa

Chủ nhật - 10/04/2016 09:46
Thuận Hóa (順化) là địa danh hành chính cũ của vùng đất bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Đây nguyên là đất các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô, Châu Ri (hay Lý) của Chiêm Thành.
Ngôi miếu cùng với đình làng Thế Lại Thượng đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1999 - Ảnh: Thái Lộc
Ngôi miếu cùng với đình làng Thế Lại Thượng đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1999 - Ảnh: Thái Lộc
Thông qua gia phả, chúng ta có thể nhận biết quá trình khai thác xứ Thuận Hóa qua từng thời kì, bằng cách xác định (đôi khi tương đối) thời gian hay thời điểm các họ tộc di chuyển địa bàn vào đây cư trú. Kể từ khi nhận đất châu Ô châu Rí của Champa, đổi tên thành châu Thuận, châu Hóa của Ðại Việt (1307), nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã lần lượt kéo vào xây dựng cuộc sống mới, có lúc lẻ tẻ, có lúc ồ ạt... Theo tiến trình lịch sử nêu trên, chúng ta thấy được một số thời điểm quan trọng đánh dấu các cuộc di dân lớn cho đến trước khi cuộc chiến tranh Nam - Bắc kết thúc, lấy sông Gianh làm giới tuyến năm 1672, từ đó có thể liên hệ đến tình hình nhập cư của các họ tộc vào vùng Hóa Châu cho đến đầu thế kỉ XIX.
;

I - Các họ nhập cư khoảng thời Trần - Hồ  (1307 - 1428)

Năm 1307, do dân bản địa (Champa) không chịu nhận chính quyền mới, nổi loạn chống đối, có lẽ không chỉ ở ba thôn như sử chép, triều Trần sai Ðoàn Nhữ Hài vào “tuyên bố đức ý”, xếp đặt công việc quản lí, tạo cơ hội cho những người nông dân lao động vùng đồng bằng Bắc Bộ rời quê hương đến đất mới làm ăn. Sử không chép rõ, nhưng thế nào nhà nước cũng tổ chức các cuộc di dân tập thể như ở thời Lí lúc mới tiếp nhận ba châu Bố Chinh, Ðịa Lí, Ma Linh. Vì người Việt ở lẫn với người Chăm, hay chiếm cứ những nơi thuận lợi, nên mới gặp phải sự chống đối của họ. Từ thời điểm này cho đến nửa thế kỉ sau, cư dân đông dần lên. Cuối triều Trần, Hồ Quý Li chuẩn bị cướp chính quyền, cũng như sau khi đã lên ngôi, e ngại áp lực của nhà Minh (Trung Quốc), nên cố gắng khai thác miền Nam để biến Thuận Hóa - Quảng Nam thành một hậu phương vững mạnh: mở đường thiên lí đến tận biên cảnh Champa, đánh chiếm thêm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lũy (Quảng Ngãi), thực hiện những biện pháp khuyến khích khai hoang lập ấp (1). Nhân dân Thanh Nghệ và Sơn Nam (phần nam đồng bằng Bắc Bộ) lại lục tục đổ vào...

Như vậy, về mặt lí thuyết, những họ nhập cư Hóa Châu sớm nhất là thuộc thời kì này, xuất phát chủ yếu từ đồng bằng Bắc Bộ, và tính đến nay ít nhất cũng đã đến đời thứ 24 - 28. Nhưng khảo sát thực tế qua các cuộc điền dã, chúng tôi thấy trường hợp này rất hiếm hoi và không chắc chắn, hoặc mập mờ về thời điểm, hoặc đứt đoạn về gốc tích, nếu còn sót lại đôi chút vết tích thì họa chăng vào đời Hồ (1400 - 1407) hay trước đó mươi năm khi Hồ Quý Li bắt đầu cầm quyền, vì vào khoảng này, chính quyền trung ương chú trọng xây dựng và phát triển hai châu Thuận, Hóa.

Họ Hồ Thế Lại
Một số làng còn thờ vị Thành Hoàng họ Hồ, trong đó có làng Thế Lại. Miếu Thành Hoàng, hay còn gọi là miếu Khai canh làng Thế Lại thượng, ở trên trục đường Bạch Ðằng, mang biển số nhà 120. Miếu quay hướng Tây - Tây Nam, nhìn ra sông đào Ðông Ba, và cũng như đình, lấy núi Xước Dũ làm tiền án, Cồn Hến làm hậu chẩm. Thời điểm khởi dựng không rõ, nguyên vốn ở đây hay tháo giở từ chỗ trong Kinh thành dời ra đầu thế kỉ XIX, nhưng được trùng tu vào các năm 1897, 1926, 1943... Miếu thờ ngài Hồ đại tướng quân, người có công lớn thành lập làng (khai canh), nhân dân tôn làm Thành Hoàng.

Hồ Ðại tướng quân là nhân vật như thế nào? Theo kết quả khảo sát điền dã và tư liệu thư tịch cổ, chúng tôi thấy có hai vị họ Hồ được Dương Văn An nói đến trong Ô Châu cận lục: Hồ Hưng và Hồ Long. Hồ Hưng “người Hóa Châu. Vua Trần Quý Khoách [Khoáng] đem chị là trưởng công chúa gả cho, thụ chức tư đồ. Rồi cho ra Thanh Hóa chống giữ giặc Minh” (2). Nhân vật này, sách Ðại Việt sử kí toàn thư chép tên Hồ Bối: tháng Chín năm Tân Mão, Trùng Quang 3 (1411), “Gả Quốc tỉ trưởng công chúa cho Hồ Bối, người châu Hóa, cho Bối làm tư đồ, rồi sai ra Thanh Hóa chống giặc” (3). Hưng và Bối có lẻ chỉ do sao chép nhầm mặt chữ. Còn Hồ Long, cũng “người hạt Hóa châu đời Trần Nghệ Tông, làm đại tri châu bản hạt có chính tích tốt” (4). Theo chúng tôi, Hồ đại tướng quân phải là Hồ Long, vì Hồ Hưng đã ra Thanh Hóa đánh giặc Minh và chết ngoài ấy, còn Hồ Long chỉ ở “bản hạt”, nay còn mộ ở xã Quảng Thành, huyện Quảng Ðiền, gần vị trí thành Hóa Châu cổ, lị sở phủ Triệu Phong; hàng năm dân làng về đấy làm lễ tế tảo ngày 12 tháng Chạp âm lịch. Nếu đúng như thế, thì ta cũng có thể xác định làng Thế Lại được khai phá, thành lập vào thời Trần Nghệ Tông (1370 - 1372)... Bài vị thờ đề: “Bản xã đương cảnh Thành hoàng Vũ Duệ Hồ đại tướng tôn thần”, Vũ Duệ có lẽ là mĩ hiệu của ông. Ngài Hồ đại tướng quân khai canh làng Thế Lại, nhưng hiện nay nơi đây không tồn tại cư dân tộc Hồ. Như vậy, có thể các tộc Hồ xứ Huế đã định cư trên địa bàn từ khá sớm, rồi lan tỏa đi nhiều nơi.

Họ Phan La Vân
Một trường hợp khác là họ Phan làng La Vân thượng, tổng An Thành, huyện Quảng Ðiền (nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Ðiền). Bài tựa tộc phả cho biết (dịch): “Ngài thủy tổ và các ngài tiên tổ họ ta, nguyên quê gốc tại xã Thanh Ðồng huyện Thiệt Lục phủ Lạng Giang đạo Sơn Bắc ở Bắc Kinh, từ xa xưa vào Thuận Hóa làm việc công, đem gia quyến theo, lâu đời thì sinh đẻ càng nhiều, mở mang càng rộng, bèn lệ vào ngạch tịch Thừa Thiên, lập thành làng xã, miếu thờ và mộ táng đã trải mấy trăm năm, là một họ khai canh lớn trong làng vậy”.

Tập gia phả trùng tu năm Quý Tị (1953), sau một trận lụt lớn, theo bản cũ năm Giáp Dần (1913), đối chiếu với các tờ “tiếu” năm Ất Mùi (1894), Ðinh Sửu (1876), nên không khỏi sai sót. Trong các chi tiết nguyên quán trên, chỉ có phủ Lạng Giang là chính xác, còn lại không rõ vì bản “nguyên cựu biên” sai lạc hay người sao nhận lầm mặt chữ, vì tên huyện Thiệt Lục cũng như tên xã Thanh Ðồng đều không thấy chép ở bất kì một thư tịch cổ nào. Chúng tôi cho là xã Thanh Dã (dã nghĩa Nôm “cánh đồng xanh”), thuộc tổng Tam Dị, huyện Bảo Lộc (chữ bảo dễ nhầm thành thực, mà chữ “thực” triều Nguyễn kiêng húy viết thiệt, còn lộc và lục mặt chữ gần giống nhau), xứ Kinh Bắc (nay là một bộ phận của xã Tam Dị, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc).

Về ngài thủy tổ, phả hệ ghi: “Thiên Trường vệ Chấn Uy quân tiền phong tướng, Ngự dinh quản lĩnh Phan quý công”. Tổ tiên nhà Trần người Trung Quốc, đến ở hương Tức Mặc (sau đổi xã Tức Mặc, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh, nay thuộc tỉnh Nam Hà). Sử chép: “Nhâm Tuất, [Thiệu Long] năm thứ 5 [1262]..., mùa Xuân, tháng 2, thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn. Các hương lão từ 60 tuổi trở lên, mối người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa. Ðổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa. Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này. Do đó, đặt sắc dịch ở hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu thủ để trông coi” (5). Như vậy, Phan quý công rõ ràng là nhân vật đời Trần, sống muộn lắm cũng vào giữa thế kỉ XIV, do nhu cầu công vụ vào Hóa Châu, đem theo gia quyến. Họ này cũng như họ Hồ thuộc lớp kì cựu, phát triển rộng khắp.

Nhìn chung, gia phả các họ tộc cũng như hương phả các làng xã sớm nhất đều trong tình trạng gốc gác mập mờ, thế thứ nhập nhằng. Nguyên nhân không có gì khó hiểu: tất cả đều được soạn quá muộn, hàng trăm năm sau, cháu chắt không thể nhớ rõ được sự tích tiền nhân, khẩu truyền dần dà sai lạc. Bởi vì đương thời các vị khai canh khai khẩn còn bận trăm công nghìn việc, mải lo cái ăn, cái mặc, cái ở, không rỗi để biên chép. Vả lại, khoảng Lí - Trần, việc học hành rất sơ sài, chỉ tập trung vùng kinh kì mà bỏ trống các huyện xã. Phải đợi đến năm 1397, Hồ Quý Li mới nhân danh vua ban bố tờ chiếu mở mang việc học ở các phủ lộ nhưng chưa lan đến miền biên viễn. Ðã mù chữ thì còn viết lách làm sao được!


II - Các họ nhập cư khoảng thời Lê - Mạc (1428 - 1558)

1. Giai đoạn Hậu Lê
Ðầu đời Lê, nhất là sau khi vua Lê Thánh Tông đẩy lùi Champa, lập thêm thừa tuyên Quảng Nam (1471), Thuận Hóa thoát khỏi nạn quấy phá liên tục, đi dần đến ổn định và mở đầu giai đoạn phát triển mạnh; các vị khai canh làng xã, các vị thủy tổ họ tộc được ghi nhận trong giai đoạn này, phần nhiều là quan chức tướng lãnh của triều đình tự nguyện vào khai thác hay xin ở lại sau khi làm xong nhiệm vụ, nguyên quán của họ cũng không được rõ ràng.

Họ Lê Xuân Hòa
Tộc phả họ Lê làng Hà Khê (từ năm 1755 đổi tên Xuân Hòa, nay thuộc xã Hương Long, thành phố Huế) cho biết “ngài khải tổ” là Lê Văn (chữ Hán viết, hoặc viết, hoặc viết), hiệu Thụy Khê, sinh năm Bính Ngọ thời Bình Ðịnh Vương (tức 1426) tại châu Thuận Hóa (thực ra thờI này còn phân biệt hai châu: châu Thuận và châu Hóa), làm quan triều Hồng Ðức đến chức thượng thư Bộ Hộ kiêm Bộ Binh; bà họ Lưu, người xã Hồng Khê (6), sinh khoảng niên hiệu Thuận Thiên (1428 - 1434). Trong bài tựa đề ngày 15 tháng Tám Hàm Nghi nguyên niên (23 - 9 - 1885), Lê Quang Trinh ( ? - 1918) viết (dịch): “Tổ tiên họ Lê ta không rõ người ở xứ nào, có lẽ từ Hà Nội dời vào xã Thạch Xá, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, lại dời vào xã Bích Khê tỉnh Quảng Trị, cuối cùng đến ở nơi đây”.

Trong Ô Châu cận lục, Dương Văn An cũng đã nói đến nhân vật này ở phần Nhân vật môn, mục “Bạn vua”, kể chuyện vua Lê Thánh Tông thủa còn chưa lên ngôi, cùng học với Lê Văn (7); có lần Thánh Tông ghi đùa vào bài thi của ông câu: “Triều ta sẽ thăng Lê Văn giữ chức thượng thư”, ông đem cất quyển vở ấy đi. Ðến khi Thánh Tông lên ngôi, ông mang dâng lên, vua bèn cử giữ chức vụ ấy. Chuyện mang tính dân gian, nhưng có lẽ không xa sự thật, vì chính vua Lê Thánh Tông, tức hoàng tử Tư Thành (1442 - 1497) đã phải trải qua một giai đoạn thơ ấu luân lạc với mẹ (Ngô Thị Ngọc Dao) ở vùng Hải Dương (1442 - 1445). Lê Văn chắc cũng gốc ở đấy, cùng xã Hồng Khê với bà vợ họ Lưu, nên mới học chung với Tư Thành (đúng hơn là dạy cho Tư Thành học, vì ông hơn hoàng tử những 15 tuổi), về sau mới vào công cán vùng Thuận Hóa và đến ngụ tại xã Hà Khê huyện Kim Trà...

Họ Phan Thanh Phước
Một trường hợp khác là họ Phan làng Thanh Phước, thủy tổ là Phan Niêm. Làng hiện còn thờ bản Niên phả tại đình Khai canh, kể rõ gốc tích của ông. Làng này được thành lập từ thời Lê Thánh Tông, năm 1473 niên hiệu Hồng Ðức (1470 - 1497), do hai cha con ông tuần kiểm sứ Niêm Long hầu Phan Niêm và kinh lược sứ Lãng Triệt hầu Phan Lãng. Ông Niêm sau khi theo vua đi đánh Champa trở về ngang qua vùng Thuận Quảng, thấy đất đai trù phú, phong cảnh hữu tình, bèn xin vào khai phá, đem theo vợ con và người nhà. Lúc đầu, ông mộ dân phát rừng, làm thành đồng ruộng ở huyện Võ Xương (Quảng Trị), cày cấy thuần thục; ngày 10 tháng Ba năm Hồng Ðức 3 (17 - 4 - 1472) quan Ðông Các học sĩ Nguyễn Ðức Mậu và quan tri phủ Dương Văn Thông về khám đạc, lập thành làng Diên Cát.

Sau đó, để lại nơi ấy cho con cả Phan Ðường, con thứ ba Phan Lễ và con út Phan Nham quản lí, ông đem theo con thứ hai là Phan Lãng vào xứ Ô Thủy (có lẽ chỉ vùng bùn lầy nước đọng, không phải tên riêng), huyện Kim Hoa, dọn dẹp lùm hoang bụi rậm, mở mang thành ruộng và xin quan địa phương khám đạc dựng làng mới ngày mồng 5 tháng Tư nhuận năm Hồng Ðức 4 (bản Cổ tích sự chép thế, nhưng tra lịch năm Hồng Ðức 4, 1473 không có tháng nhuận). Làng lúc đầu tên Hoằng Phúc, thuộc huyện Kim Hoa (tức Kim Trà), sách Ô Châu cận lục chép thuộc huyện Tư Vinh, sau đổi Thanh Phúc, thuộc tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang (thế kỉ XVI - đầu XVIII), lại đổi tên Hồng Ân (cuối thế kỉ XVIII), trở lại Hồng Phúc (đầu thế kỉ XIX), thuộc tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, và cuối cùng Thanh Phước (đời Tự Ðức, vì húy chữ HỒNG). Từ năm 1945, làng thuộc xã Hương Phong, đến năm 1959 đổi thuộc xã Quảng Lộc, huyện Quảng Ðiền; từ năm 1975, lại thuộc xã Hương Phong, huyện Hương Ðiền. Xã này năm 1981 được đưa vào thành phố Huế, nhưng từ năm 1991 đến nay thì thuộc huyện Hương Trà.

Làng hiện còn bảo lưu được hòm hồ sơ gần một nghìn trang tư liệu Hán Nôm từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX, trong đó có nhiều văn bản quý liên quan đến lịch sử địa phương và cả lịch sử dân tộc, cất giữ tại miếu Khai canh.

2. Giai đoạn nhà Mạc
Cuối Lê đầu Mạc, tức trước sau năm 1527, miền Bắc lại lâm vào tình trạng bất ổn, triều đình lộn xộn với nạn tranh chấp bè phái, khiến cho xã hội loạn li, sức sản xuất đình đốn vì chinh chiến liên miên; trong lúc ấy, miền Thuận Hóa ít dao động, quan chức phần lớn “bình chân như vại” xem cuộc “hổ đấu”. Mãi đến năm 1548, vua Lê chúa Trịnh mới sai Tây quận công Lê Phi Thừa, Bùi Tá Hán vào kinh lược Thuận Quảng, và sang năm 1552 thì dẹp yên dư đảng nhà Mạc, đặt quan cai trị. Nhân dân vùng kinh kì và Thanh Nghệ dắt díu nhau tìm nơi yên ổn làm ăn, và họ đến Thuận Hóa xây dựng quê hương mới; phong trào di trú tuy tự phát, nhưng cũng đông đảo.

Họ Nguyễn Ðăng An Hòa
Nhà thờ họ Nguyễn Ðăng (có chi là Nguyễn Cư) hiện còn treo đôi liễn do Nguyễn Cư Sĩ tiến cúng mùa hè năm Bính Ngọ, Thiệu Trị 7 (1846):
Xuất vu Hoan Châu, thiên vu Ô Châu, bồi thực tự tam bách niên y thủy;
Tích vi Trịnh tính, kim vi Nguyễn tính, kế thừa kinh thập tứ thế hữu dư.

Tạm dịch:
Gốc ở châu Hoan, vào ở châu Ô, xây đắp từ ba trăm năm như trước;
Xưa là họ Trịnh, nay là họ Nguyễn, nối truyền qua mười bốn thế còn lâu.

Câu đối này đã khái quát được lai lịch dòng họ. Thật vậy, theo tộc phả, ngài thủy tổ là Trịnh Cam, quê ở xã Phù Lưu Trường, huyện Thiên Lộc, phủ Ðức Quang, xứ Nghệ An, thi đỗ tiến sĩ (theo gia phả, còn Ðăng khoa lục không thấy chép tên ông), làm quan triều Lê đến Binh bộ thượng thư kiêm chuyển vận sứ. Khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi (1527), ông bỏ về, rồi vào Thuận Hóa, ở tại làng Tiên Nộn huyện Phú Vang (nay Hương Trà), cùng với em là Trịnh Quýt chiêu tập nghĩa binh tôn phù nhà Lê. Ông mất, con trai thứ ba là Trịnh Vĩnh Phu dời đến ở làng An Hòa, huyện Hương Trà, theo chúa Tiên, làm hiệu sinh phủ Triệu Phong, mất, thụy Minh Doãn.

Vĩnh Phu sinh hai con trai: Trịnh Bật và Trịnh Xưởng (tự Phi Chiêu, hiệu Trình Thụy); Xưởng sinh hai con trai là Trịnh Bạt Tụy và Trịnh Bạt Dĩnh. Bạt Dĩnh sinh Trịnh Ðình (tự Phi Lâm, hiệu Mậu Lương). Trong số bốn người con trai của Trịnh Ðình, thì hai người Trịnh Sử (tự Phi Huân, thụy Ðôn Thành) và Trịnh Phú (húy Ðăng Tiên, hiệu Phú Nhuận, thụy Ðạt Lí) lập làm hai chi từ đời thứ năm, gọi là “chi Ðôn Thành phủ quân” và “chi Ðạt Lí phủ quân”. Cho đến lúc này, họ Nguyễn xã An Hòa tuy là một cự tộc, nhưng chủ yếu thuộc tầng lớp nông dân lao động, vừa cần cù làm ruộng, vừa chăm chỉ học hành. Bắt đầu đời thứ sáu mới có người thành đạt, đặc biệt “chi Ðạt Lí phủ quân”, sản sinh nhiều nhân vật liên quan đến lịch sử và văn học.

Trịnh Phú có bốn con trai, trong đó thứ ba là Ðăng Ðệ, húy Viễn, tiểu tự Bang, hiệu Hòa Ðức, sinh ngày 17 tháng Sáu năm Kỉ Dậu (14 - 7 - 1669), thi đỗ khoa chính đồ năm Âút Hợi (1695), bổ huấn đạo phủ Triệu Phong; lại đỗ hương tiến khoa Tân Tị (1701), bổ tri huyện Minh Linh, thăng Văn chức viện năm Mậu Tí (1708) và được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho họ Nguyễn, từ đó, toàn tộc đổi làm Nguyễn Ðăng. Ông mất ngày 28 tháng Mười Một năm Ðinh Mùi (9 - 1 - 1728), được tặng Ðặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, thụy Cương Nghị. Ông có hai vợ, bà chính phối là Nguyễn Thị Luân, bà thứ phối là Ngô Thị Liên, sinh được 15 con trai và 10 con gái, trong đó Nguyễn Cư Trinh là con thứ bảy.

Cùng hàng với Nguyễn Cư Trinh có Nguyễn Ðăng Thịnh, Nguyễn Ðăng Tiến... đều là những nhân vật nổi tiếng, được giao giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới thời các chúa và con cháu họ về sau vẫn có nhiều người tiếp tục tham chính trong triều Nguyễn.

Họ Võ Thai Dương
Họ Võ nay ở làng Thai Dương (nay thuộc xã Hải Dương, huyện Hương Trà). Gia phả do trưởng tộc Võ Văn Tôn phụng soạn ngày mồng 8 tháng Mười năm Giáp Thân, suy ra là ngày 25 - 11 - 1884 (vì ông Tôn đời thứ 12, con ông Thìn làm lí trưởng năm 1845), theo một tập cũ mà nay không còn. Nội dung bài tựa chỉ nói lên tinh thần “uống nước nhớ nguồn” và quy cách biên chép chứ không kể rõ gốc tích dòng họ. Phả hệ phái ba ghi ông Võ Văn Tài “Thái Nguyên quận”, bà Nguyễn Thị Ai “Trần Lưu quận” chẳng qua là kê địa danh Trung Quốc dựa vào sách Bách gia tính như truyền thống chung.

Phần đầu, dưới vị Hiển thượng thủy thủy tổ là một loạt các vị Cao cao cao tổ, Khai canh, Khai khẩn, Cao cao tổ, cao tổ, cao tằng tổ. Những cách gọi ấy mang ý nghĩa đại khái, vì đời xa người khuất, hậu thế chỉ nhớ mang máng, nay muốn sắp xếp lại thế thứ thì phải dò lần xem vị nào đời trước sinh ra vị nào đời sau. Nhưng từ đời 11 trở đi lại chỉ có danh sách 12 vị mà không có thế thứ, mải chín đời cuối cùng từ giữa thế kỉ XVIII cho đến giữa thế kỉ XX mới rõ ràng. Tuy nhiên, hai chi tiết sau đây soi sáng phần nào lịch sử dòng họ: theo tập truyền, ngài Khai canh vào Thai Dương trước năm Vĩnh Ðịnh (1547) thời Mạc Phúc Nguyên, sau đó, ngài cao cao tổ Võ Văn Ti [Tư] (đời thứ bảy tính từ ngài Khai canh) làm tướng thần xã trưởng năm Vĩnh Trị 7 (1682).

Như vậy, thế thứ họ này sắp xếp như sau: Ngài Hiển thượng thủy thủy tổ “Thái Nguyên quận Võ đại lang” có nguồn gốc ngoài Bắc (Thanh Hóa?), được thờ vọng chứ không mộ, vì ngài không vào Nam; đó là đời thứ nhất. Tiếp đến, hai ngài Cao cao tổ Võ đại lang (khuyết tên) cũng sống và chết ngoài Bắc, con cháu về sau rước di cốt vào cải táng; đó là đời thứ hai. Ngài “Bổn thổ Thành Hoàng tiền khai canh Võ quý công tôn thần gia tặng Dực bảo trung hưng linh phò đoan túc trung đẳng thần” là đời thứ ba, đặt chân đến xã Thai Dương, đem theo con cháu, mở mang đất đai trước năm Vĩnh Ðịnh (1547)... Một thời gian ngắn sau đó, Dương Văn An đã có thể ghi tên xã Thai Dương vào tác phẩm địa phương chí của mình, sách Ô Châu cận lục, soạn năm 1555.

Họ Huỳnh Long Hồ
Họ Huỳnh thuộc lớp "á khai canh" làng Long Hồ, tổng An Ninh, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (nay xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông tổ Huỳnh Khâm gốc Nghệ An, tộc phổ ghi đời thứ ba, hai đời trên là Huỳnh Ðình Hi (cha), Huỳnh Ðình Lịch (con) đều sống và chết ở Nghệ An. Bài Phả kí nói ông Khâm đến khai thác đất Long Hồ năm Ðức Long 1 (1629), ra Nghệ An thi đỗ sinh đồ (như tú tài đời Nguyễn), rồi dời hài cốt hai ngài này vào cát táng ở quê mới. Sắc phong "á khai canh" đề năm Duy Tân 7 (1913). Thật ra, chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã bùng nổ năm 1626, sự đi lại giữa hai miền bị phong bế, cho nên có thể nghĩ ông Khâm vào lập nghiệp khoảng cuối Lê đầu Mạc (nửa đầu thế kỉ XVI). Con cả ông Khâm là Huỳnh Ðình Trận, rồi con cả ông Ðinh Trận là Huỳnh Bá Trận, phả chua thêm "Trung nghĩa quan", nhưng đều mất tích và vô tự. "Trung nghĩa quân", "Trung nghĩa quan" là những người có công theo phò Nguyễn Hoàng từ đầu và con cháu họ tiếp tục nối nghiệp, được hưởng một số ơn huệ đặc biệt và được tin dùng; chúng tôi gặp rất nhiều trong các tộc phả ở làng Phước Yên, nơi đóng của chính phủ đầu thế kỉ XVII.

Mãi đến cuối thế kỉ XVII, họ này mới có người tham gia bộ máy chính quyền của các chúa Nguyễn, nhưng thuộc cấp thấp, giữ các nhiệm vụ không quan trọng lắm. Ðời thứ mười Huỳnh Ðình Khôi (1649 - 1714). Từ ngày Tây Sơn giải phóng Thuận Hóa (1786), nhiều người ra cộng tác với tân triều trong các lãnh vực khác nhau, chủ yếu quân đội, rồi sau đó lại phục vụ nhà Nguyễn như các ông Huỳnh Ðình Túc (1742 - 1820), Huỳnh Ðình Chương, Huỳnh Ðình Giản (được thờ ở miếu Trung Hưng Công Thần), uỳnh Ðình Thiệu, Huỳnh Ðình Huấn...


III. Các Họ nhập cư khoảng thời Trịnh - Nguyễn (1558 - 1786)

Ðây là thời kì tương đối rõ ràng, tộc phả ghi chép thường mở đầu bài tựa với câu đại khái “ngài Tổ họ ta theo chúa Tiên vào Nam”. Tuy nhiên, niên điểm chính xác thì còn cần phải xét lại, vì “chúa Tiên vào Nam” không chỉ một lần.

1. Về niên điểm Mậu Ngọ 1558
Theo Nguyễn Hoàng vào Nam ở niên điểm này gồm tướng sĩ bản bộ của ông và vợ con của họ, chủ yếu quần cư tại chung quanh dinh Ái Tử (Quảng Trị), một số lính tráng được cử đi đóng giữ các nơi và có những người trong số họ sẽ lưu ngụ hay khai canh làng mới. Những gia tộc ấy phần nhiều xuất phát từ Thanh Hóa, vùng hoạt động của Nguyễn Hoàng trước khi ra đi, riêng người trang Gia Miêu ngoại và huyện Tống Sơn được đặc biệt “ưu ái” hơn hết. Ứng với trường hợp này là họ của những nhân vật thân cận với Nguyễn Hoàng như Nguyễn Ư Kỉ, Mạc Cảnh Huống, nhưng chưa sưu tra được tường tận. Chúng tôi tìm thấy các họ khai canh làng Mĩ Lợi (nay xã Vinh Mĩ, huyện Phú Lộc), họ Trương làng Nham Biều (xã Hương Hồ, huyện Hương Trà) và có thể họ Ðặng làng Thanh Lương (nay xã Hương Xuân, huyện Hương Trà).

Các họ khai canh Mĩ Lợi
Hương phả làng Mĩ Lợi, tức phường Mĩ Toàn cổ (không rõ soạn vào thời gian nào, nhưng chưa lâu lắm) cho biết: "Tám ngài khai canh làng ta, được sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò, tặng thêm Ðoan Túc tôn thần (chín đạo sắc phong, trong đó một đạo hợp phong), là người xã Lương Niệm, tỉnh Thanh Hóa. Các ngài vốn trong đoàn quân sĩ, năm Chính Trị Triều Lê theo phò chúa Tiên (tức Thái tổ Gia Dụ hoàng đế triều ta) vào trấn thủ Thuận Hóa (nay Thừa Thiên). Sau khi yên việc, các ngài bèn đứng đơn kê khai xin trưng phần đất ấp ta (đông giáp biển và ấp Mĩ Á, nam giáp hai xã Nghi Giang, Ðơn Chế, tây giáp ba xã Diêm Trường, Phụng Chánh, Lương Viện, bắc giáp biển và ấp An Bằng) đặt tên là phường Mĩ Toàn (sau đổi là ấp Mĩ Lợi), để lại đến trăm năm..."

Những thông tin này khá tin cậy, vì theo sử sách thì "Canh Thân, năm thứ ba (1560), mùa đông, đặt đồn cửa biển giữ miền duyên hải (bấy giờ quân Mạc thường theo đường biển vào cướp Thanh Nghệ nên phải đề phòng)" (8). Tám ngài trong số đội quân đến đóng nơi đây, vì cùng quê nên hợp nhau khai khẩn đất đai, rồi ở lại xin lập làng mới. Mặt khác, do điều kiện thực tế lúc bấy giờ, việc cấp phát quân lương vẫn đang có những khó khăn nhất định, nên Dinh chúa đã cho áp dụng chế độ "quân đội tăng gia sản xuất" nhằm tự túc phần nào lương thảo của quân đồn trú. Do vậy mà những người "lính biên phòng" thời bấy giờ đã tích cực khai hoang vỡ đất cấy trồng làm ra lương thực, đồng thời sắm sanh ghe gọ thay phiên nhau lưới chài đánh bắt hải sản làm thực phẩm... vừa dùng ngay, vừa chế biến để dự phòng; bởi "đất lành chim đậu" nên đã chọn nơi này làm quê mới.

Xuất thân của các ngài càng được khẳng định qua khẩu truyền tám vị cùng dựng mấy ngôi nhà rộng và dài mười gian ở Khe Long để cùng cư trú và làm việc. Cái lán ấy đúng là trại quân đồn trú rồi! Họ tên tám ngài khai canh ghi trong sổ thờ là: Lê Văn Dài, Trương Văn Trực, Nguyễn Văn Ðẩu, Nguyễn Bá [Văn] Niên, Ðỗ Văn Lịch, Sào Văn Liễu, Ðoàn Văn Bài, Trần Văn Nghĩa. Vả lại, một số ngài có cháu đời thứ ba, thứ tư đứng tên trong sổ ruộng năm Cảnh Trị 7 (1669) sau một trăm năm, thì không có gì phải nghi ngờ. Ðó là những họ đầu tiên cư trú tại đây (hai họ Ðỗ và Sào thất tung); rồi sớm muộn còn đến thêm những họ mới mà tổ tiên cùng nguyên quán với các ngài khai canh, và có lẽ cùng vào Ái Tử một lần, nhưng con cháu một hai đời sau mới tìm đến theo vì tình đồng hương, làm thành các họ lớp hai: Bùi, Huỳnh, Nguyễn, Lại, Ðồng, Lê, Lương, Ðoàn (hai họ Bùi, Ðồng thất tung).

Họ Ðặng Thanh Lương
Họ Ðặng là một thế gia vọng tộc tại làng Thanh Lương (tên cũ Thanh Kệ), huyện Quảng Ðiền (nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Trà), nhiều đời nổi tiếng thi thư lễ nghĩa. Trước đây, Phạm Tuấn Khánh trong nhóm Trà Lĩnh cho biết họ Ðặng này tổ tiên xưa kia vốn họ Trần, dòng dõi Hưng Ðạo vương Trần Quốc Tuấn, người đã ba lần đánh đuổi giặc Nguyên Mông xâm lược thế kỉ XIII. Năm 1551, Trần Tuấn khởi nghĩa thất bại, con cháu trốn về làng Chúc Sơn, huyện Chương Ðức (nay Chương Mĩ, tỉnh Hà Tây), rồi theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Tuy nhiên, xem trong sử sách, chúng tôi không thấy một cuộc khởi nghĩa như vậy, mà lùi lại bốn chục năm thì ngày 11 tháng Một năm Tân Mùi (30 - 12 - 1511), có người làng Quảng Bị, huyện Bất Bạt, xứ Sơn Tây là Trần Tuân, cháu của viên thượng thư Bộ Lại triều trước, nổi dậy chiếm cứ địa phương, đánh về vùng ngoại vi Thăng Long, uy hiếp kinh thành, thế lực rất mạnh. Nhân dân phố xá rối động, đem nhau lánh về quê cũ. Sau, Trần Tuân bị Mĩ Huệ hầu Trịnh Duy Sản đâm chết, con cháu trốn về huyện Chương Ðức, đổi họ Ðặng, từ năm 1527 bắt đầu làm quan với nhà Mạc.

Gần đây, Ban Liên lạc họ Ðặng đã phủ nhận hoàn toàn luận cứ trên. Sự thật, vẫn có một họ Ðặng do họ Trần chuyển sang, như Ðặng gia phả hệ toản chính thực lục chép: “Nguyên do là Trần Tuân thấy nhà Lê đang suy tàn bèn nổi dậy chống nhà Lê. Sự việc không thành, tiến sĩ Trần Văn Huy là ông nội Trần Tuân, làm quan Hình bộ thượng thư, sợ nhà Lê tru di tam tộc nên cùng với các con trả ấn từ quan, về ở ẩn, lấy tên hiệu của mình là Ðặng Hiên để đổi họ cho con từ Trần sang Ðặng gồm Trần Cẩm, Trần Du, Trần Lâm” (9). Nhưng đó là sự kiện đổi họ, không phải họ Ðặng chính thống đã có mặt từ xa xưa với các nhân vật khoa bảng hay quan trường thời nhà Lí, nhà Trần... Riêng họ Ðặng Thanh Lương, gốc gác như thế nào? Gia phả cho biết đây là một chi xuất phát từ xã Hà Trung (nay thuộc xã Vinh Hà, huyện Phú Vang), mà phả hệ họ Ðặng Hà Trung lại cho biết họ mình xuất phát từ Ðặng Tảo, con của hiền sĩ Ðặng Nghiêm thời Lí.

Ðặng Tảo vào lập nghiệp tại hụyện Thiên Lộc, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hóa (nay là xóm Tây Ngư, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Ðến đời thứ 18, ba ông Ðặng Văn Ngự, Ðặng Văn Tây (húy Hà), Ðặng Văn Trung (húy Việt) vào khai canh làng Hà Trung (nay xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) cùng với thủy tổ các họ La, Văn, Mai, Nguyễn, Bùi... Ðặng Văn Ngự (hay Quang Ngự) sinh Ðặng Văn Di (húy Hùng); Ðăng Văn Di sinh hai con trai là Ðặng Văn Cạc (ông Huy), con cháu vẫn ở tại làng, và Ðặng Văn Tài, con cháu ra đi lập nghiệp nơi khác. Dòng này, đến khoảng thời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 - 1681), đạo sĩ Ðặng Văn Minh dời lên Chính dinh Phú Xuân, rồi về làng Hiền Sĩ (nay thuộc huyện Phong Ðiền).

Con Quang Minh là Quang Thành, con Quang Thành là Quang Khang (1716 - 1765). Quang Khang theo mẹ (cải giá) đến ở xã Dương Xuân huyện Hương Trà. Con ông là Quang Tuấn (1752 - 1825) gặp lúc quân Trịnh đánh Phú Xuân (1774), lánh ra làng Thanh Lương, rồi nhập tịch giáp Ðông xã Bác Vọng, huyện Quảng Ðiền, ở ẩn dạy học... Thời Tây Sơn, con các quan viên đều đến thụ giáo với ông. Các đời kế tiếp đổi dùng chữ lót lần lượt theo hai câu thơ “Quang Văn Huy Hữu Khánh, Hưng Mậu Như Thanh Xuân” và rất hiển đạt với các nhân vật Ðặng Văn Hòa (1791 - 1856), Ðặng Huy Cát (1832 - 1899), Ðặng Huy Trứ (1825 - 1874), Ðặng Hữu Phổ (1854 - 1885)...

2. Về niên điểm Canh Ngọ 1570
Tháng Ba năm Mậu Thìn (1568), trấn thủ Quảng Nam Bùi Tá Hán chết, Trịnh Kiểm bổ Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh vào thay. Tháng Chín năm sau (Kỉ Tị, 1569), Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa chầu vua Lê Anh Tông và yết kiến Trịnh Kiểm ở hành cung Khoa Trường, thăm lăng mộ cha ông. Ra Giêng năm sau (1570), có lẽ muốn tỏ lòng tin em rể khi sức mình đã kiệt, cũng có thể do Hoàng vận động để hủy diệt gọng kềm đe dọa, Kiểm gọi Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An, giao cho Hoàng kiêm coi cả Quảng Nam.

Ông cảm tạ, trở về trấn, dời dinh sang xã Trà Bát, sắp đặt lại các đơn vị hành chánh, đổi tên các huyện, các xã, đúc ấn “Tổng trấn tướng quân”, lấy quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa (hay Trung Nghĩa). Ðặc biệt ông chú trọng đến việc buôn bán, mở rộng hải cảng Hội An, chủ động mời người nước ngoài đến trao đổi hàng hóa. Mặt khác, ruộng đất được khai phá thêm, xóm làng liên tục mọc lên, lan dần tận những nơi hẻo lánh, phần lớn do các họ tộc trong số binh sĩ và tướng lãnh của đạo Trung Nghĩa quân, gốc người Thanh Hóa, Nghệ An và cả Quảng Bình. Ðó là trường hợp các họ khai canh làng An Bằng.

Các họ khai canh An Bằng
Trong hồ sơ cổ của làng có một bản chữ Nôm Sự tích lưu truyền về các ngài Tổ phụ, được viết đồng thời với tập địa bạ năm Cảnh Trị 7 (1669), vì cùng một dạng chữ và cùng một chất liệu giấy. Tuy văn phong dân gian lủng củng, một vài chi tiết sự kiện, niên điểm chưa được chính xác, nhưng qua đó, chúng ta cũng thấy được quá trình định cư của các họ khai canh An Bằng.

Nguyên vào năm 1570, một số lái buôn người thôn An Ba, xã Cừ Hà, huyện Khang Lộc, phủ Tân Bình (sau đổi Quảng Bình) đi thuyền ra buôn bán tại xứ Thanh; trong số đó có ba vị họ Nguyễn, họ Trần, họ Hoàng. Ba vị này đứng ra tình nguyện dùng thuyền trường đà (loại ghe vận tải lớn ngày xưa) chở chúa Tiên trở vào Ái Tử, lại làm hướng đạo đưa ngài đi đánh dẹp Mĩ quận công, và tham gia trừ Lập quận công Nguyễn Bạo (tướng nhà Mạc).

Sau khi xong việc, năm 1571, ba vị ấy đưa vợ con, bạn bè vào miền biển huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong, lập nên làng xóm, đặt tên là phường An Ðôi. Nhờ có công lao phò tá, chúa cho dân phường được miễn thuế má, sưu dịch, hàng năm chỉ nạp cá cảm (theo các bô lão địa phương thì đó là cá chim) làm lễ phẩm kị giỗ nơi tôn miếu. Họ được trưng miền ven bờ biển từ cửa Eo (cửa cũ, giữa hai làng Thai Dương Hạ và Hòa Duân) đến Cảnh Dương (mũi Chân Mây ngày nay). Thời chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687 - 1691), vì kiêng húy bà Tống Thị Ðôi (người sinh ra chúa Ngãi), làng phải đổi tên An Bằng, thuộc nội phủ, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong. Năm 1835, vua Minh Mạng tiến hành xếp đặt lại các đơn vị hành chánh, thì ấp An Bằng thuộc tổng Kế Mĩ. Ngày nay, làng An Bằng nằm trong địa phận xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Về niên điểm Canh Tí (1600)
Ðầu năm 1592, Trịnh Tùng đem đại quân tấn công vào phía tây Thăng Long; cuối năm thu phục kinh đô, bắt được vua Mạc Mậu Hợp, rồi cho người về Vạn Lại đón vua Lê ra Thăng Long (tháng Ba năm Quý Tị, 1593). Bấy giờ, Nguyễn Hoàng tuy đã 69 tuổi, nhưng cũng cùng các con lập tức về cố đô chúc mừng đại thắng, đem lương thực, tiền, lụa, vàng bạc, châu báu, vật liệu trong kho và sổ ruộng, sổ dân thuộc hai trấn Thuận Quảng tiến nộp. Ông bị Trịnh Tùng giữ lại và buộc tham gia đánh dẹp dư đảng nhà Mạc. Mãi sau mới dùng mưu đem quân bản bộ trốn thoát về Thuận Hóa ngày 5 tháng Năm năm Canh Tí (15 - 6 - 1600).

Theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lần này gồm những người ở chung quanh thủ đô Thăng Long, nhất là vùng Hải Dương, Kinh Bắc, địa bàn mà ông và các con hoạt động nhiều nhất. Nhân vật mà chúng ta biết đến đầu tiên là Nguyễn Tạo, nhưng chúng tôi chưa tìm được hậu duệ của dòng họ này. Nổi tiếng hơn cả là họ Nguyễn Khoa, rồi hơi muộn về sau có thêm họ Nguyễn Cửu.

Họ Nguyễn Khoa
Nguyễn Khoa là một trong những cự tộc vào định cư ở Huế trải qua nhiều đời trong hoàn cảnh phát triển chung nêu trên của xứ Thuận Hóa. Ông tổ (đời thứ nhất) là Nguyễn Ðình Thân (1553 - 1633), người gốc xã Trạm Bạc, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay tỉnh Hải Hưng). Gia phả chép chung chung rằng ông đi theo Nguyễn Hoàng vào Nam, nhưng xét thời điểm cụ thể phải là năm 1600, khi Nguyễn Hoàng trốn khỏi Thăng Long trở về trấn. Buổi đầu, ông ở vùng Ái Tử, đến đời thứ tư mới định cư tại xã An Cựu, huyện Hương Trà (nay thuộc thành phố Huế) và đổi họ Nguyễn Khoa, mà Nguyễn Khoa Chiêm là người đầu tiên (1. Nguyễn Ðình Thân, 2. Nguyễn Ðình Khôi, 3. Nguyễn Ðình Danh, 4. Nguyễn Khoa Chiêm), nữ thì lót thêm từ DIỆU trước tên. Ông còn có tên Ðô, hiệu Chính Ðạo, làm Cựu dinh đội trưởng, sau được phong tước Ðô Thắng hầu, mất ngày 28 tháng Tư năm Quý Dậu (4 - 6 - 1633); bà là Nguyễn Thị Thiềm (1556 - 1630).

Ông bà chỉ có một người con trai là Nguyễn Ðình Khôi (1594 - 1678), ông này cũng chỉ sinh một con trai, tức Nguyễn Khoa Chiêm. Nguyễn Khoa Chiêm sinh tám con trai (ba chết sớm) và bốn con gái, trong đó nổi tiếng nhất là Nguyễn Khoa Ðăng.

Nhiều đời sau dòng họ liên tục cung cấp nhân tài cho nhà Nguyễn và cho đất nước. Nguyễn Khoa Thuyên (1724 - 1789) thuộc đời thứ sáu, xếp vào hạng khai quốc công thần; con ông là Nguyễn Khoa Kiên (1754 - 1775) có tài thao lược, được mệnh danh là Triệu Tử Long (tướng giỏi của Lưu Bị đời Tam Quốc); Nguyễn Khoa Minh (1778 - 1887) thuộc đời thứ bảy, giỏi văn thơ, có tài ứng đối; Nguyễn Khoa Luận (1834 - 1900) thuộc đời thứ chín, đỗ cử nhân, làm quan đến bố chánh Thanh Hóa (1884), buồn vì mất nước, từ quan đi tu, pháp húy Thanh Chân, pháp danh Viên Giác...

Họ Nguyễn Cửu
Họ Nguyễn Cửu là một chi phái bắt nguồn từ họ Nguyễn Trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn, phủ Tĩnh Gia, xứ Thanh Hóa. Trang và huyện, từ tháng Chín năm Gia Long 2 (1803) được đổi tên là Quý Hương, Quý Huyện, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Theo Gia phổ họ Nguyễn Cửu, thì cuối Trần, Nguyễn Biện làm chức phụ đạo, tước Huệ quốc công, quê ở xứ Phú Cốc (tỉnh Nam Ðịnh), khi Hồ Quý Li cướp ngôi (1400), mới đem gia quyến vào ngụ trang Gia Miêu Ngoại; lại theo Gia phổ họ Nguyễn Hữu thì sau khi Nguyễn Trãi (tức Sừ) bị án tru di, con trai là Nguyễn Công Duẫn trốn lên vùng Cao Lạng, rồi việc yên, bèn vào Thanh Hóa ngụ cư ở trang Gia Miêu Ngoại. Cả hai thuyết đều chỉ để tham khảo vì đều thiếu căn cứ.

Các thư tịch cổ khi đi tìm cội nguồn họ Nguyễn Gia Miêu ngoại trang đều thống nhất lấy Nguyễn Bặc đời Ðinh (968 - 980) làm vị thủy tổ, nhưng đã đưa ra các phổ hệ khác nhau ít nhiều. Theo danh sách dã sử thì đời Tiền Lê (980 - 1009) và nhà Lí (1010 - 1225) có Nguyễn Ðê, Nguyễn Viễn, Nguyễn Phụng, đời nhà Trần (1225 - 1400) có Nguyễn Nộn, Nguyễn Thế Tứ, Nguyễn Minh Du, Nguyễn Biện, đời nhà Hồ và Lê sơ (1400) có Nguyễn Sừ, Nguyễn Ðức Trung. Nhưng biên bản tại Gia Miêu ngoại thời Gia Long ghi khác: đời Ðinh và Lí có Ðạt, Phụng, đời Trần có Nộn, Thế Tứ, Ðiền, Luật, Minh Du, Biện, Lữ, đời Hồ và Lê có Sừ, Công Duẫn, Trác, Lưu, Cam (Kim) (10). Lại theo một tờ trình năm 1802, từ đời Hồ và Lê sơ thì ghi Trãi, Long, Sừ, Công Duẫn, Hạo, Lưu, Cam (Kim). Nhân đó, người ta bèn cho Nguyễn Sừ là Nguyễn Trãi, Nguyễn Long là Nguyễn Anh Vũ. Những phổ hệ trên đây rõ ràng chỉ do sưu tầm và liệt kê những người họ Nguyễn thấy chép trong sử, chứ không có mối liên quan thế thứ nào cả, chẳng hạn thời Tiền Lê và nhà Lí những hơn hai năm mà chỉ hai ba đời, trong lúc thời Hậu Lê, chỉ một năm mà đến bảy đời!

Trong sách Nam triều công nghiệp diễn chí, Nguyễn Khoa Chiêm (1659 - 1736) chỉ kể bắt đầu từ Nguyễn Cam, nhưng khoảng thời Gia Long (1802 - 1819), Thận Trai Dương Công Tòng tu chính, đổi nhan đề thành Việt Nam khai quốc chí truyện, viết bài tựa truy nguyên thế phổ từ Ðịnh quốc công Nguyễn Bặc đời Ðinh đến Nghĩa quốc công Nguyễn Ðức Trung đời Lê Uy Mục (1505 - 1509) vào lập nghiệp tại Thanh Hóa; đặc biệt ông bổ sung bằng bản Việt Nam khai quốc thế hệ, tóm tắt các đời từ Nguyễn Ðức Trung đến Nguyễn Phúc Ánh, đại khái  không khác gì Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Có thể hai tác phẩm này đều dựa vào Phủ biên tạp lục của Lê Quý Ðôn (1726 - 1784), một nhà bác học khảo cứu nghiêm túc, công phu. Phần từ Nguyễn Sừ trở về trước bị gạt bỏ vì mù mờ và lộn xộn, lại năm vị Duẫn, Trung, Lang, Dụ, Cam. Nhưng vẫn tồn tại một sự nhầm lẫn. Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Ban Trị sự Nguyễn Phúc tộc thì ông Cam không phải con ông Dụ, mà là con ông Lưu.

Tộc phả Nguyễn Cửu chép vị thủy tổ từ Bắc vào Thuận Hóa là ông Kiều, dõi xuống từ Nguyễn Bá Cao, con trai thứ bảy của Nguyễn Công Duẫn, tạm ghi phả đồ sau đây cho dễ hiểu:
 
CÔNG DUẪN
1. ÐỨC TRUNG 4. NHƯ TRÁC 5. VĂN LỖ 6. BÁ CAO
VĨNH VĂN LƯU VĂN LANG BÁ DƯƠNG
CẢNH CAM HOẰNG D Ụ DI
  HOÀNG   QUẢNG
  P. NGUYÊN   KIỀU

Theo tộc phả, Nguyễn Bá Cao làm quan triều Lê Thánh Tông đến chức đô tri hàm thái phó, tước Phổ quốc công, sinh hai con trai là Nguyễn Hòa và Nguyễn Bá Ðương. Ông Hòa làm quan đến Tây quân tả đô đốc, tước Hòa quận công, Bá Ðương ở nhà, được ban hàm Quang Lộc đại phu, tước Ðỉnh Lượng tử, có một con trai là Nguyễn Di, làm quan đến Cẩm Y vệ đô chỉ huy sứ, hàm Ðặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, tước Thuận quận công. Ông Di sinh hạ Nguyễn Thạc, làm chức Ðiện tiền đô hiệu điểm, Triều quận công, và Nguyễn Quảng, làm chức Ðiện tiền đô hiệu điểm, hàm Ðặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, tước Quảng quận công. Nguyễn Kiều chính là con trai đầu lòng của ông, một thế hệ với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

Nguyễn Kiều sinh ngày 18 tháng Giêng năm Kỉ Hợi (13-2-1599) tại quê Gia Miêu, lên ra Thăng Long học tập. Năm 1623, nhận lời kí thác của bà phi Nguyễn Thị Ngọc Tú (con gái út của Nguyễn Hoàng, vợ của Trịnh Tráng), ông mang thư mật cải trang làm người đi đá gà trốn vào Nam. Vượt Gianh, ông gặp ngay Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, thuộc hàng bà con cô cậu (mẹ Dật là chị em ruột của Nguyễn Quảng); Dật liền dẫn đi gặp chúa Sãi. Chúa Sãi rất mừng, cho làm đội trưởng, gả công nữ Ngọc Ðỉnh, lần lần thăng chưởng dinh, trấn thủ dinh Quảng Bình. Trong chiến dịch đánh ra Nghệ An, ông bị thương nặng,về Quảng Bình điều dưỡng, rồi mất ngày 25 tháng Năm năm Ất Mùi (28-6-1655). Lúc đầu, ông được chúa Sãi ban công tính Nguyễn Phúc, đến năm 1820, vua Minh Mạng mới cho đổi Nguyễn Cửu, con cháu về cư trú tại làng Vân Dương, xây dựng nhà thờ ở đấy, rồi phân chi đi nhiều nơi, và để lại trong sử nhiêù tên tuổi.
 *    *    *

Tóm lại, gia phả là một loại hình tư liệu dân gian gắn chặt với từng họ tộc riêng biệt, nhưng qua đó, chúng ta cũng có thể tìm thấy những kiến thức về xã hội, lịch sử, văn học, dân tộc, địa lí, đặc biệt là hành trạng những nhân vật có đóng góp cho quê hương đất nước. Gia phả cổ tất nhiên viết bằng chữ Hán, đến nay một bộ phận lớn đã được dịch ra tiếng Việt; tuy nhiên bản cũ cần phải được tiếp tục bảo tồn để tham khảo. Vì lòng tôn sùng cổ nhân, người ta nâng niu, giữ gìn rất chu đáo, sao đi chép lại và bổ sung nhiều lần, trang trọng cất trong hòm son tôn trí trên bàn thờ tổ tiên. Ðó là bảo vật của họ tộc và cũng là tài sản của quốc gia, nhưng không nên theo lề lối cũ giấu kĩ trên cao, mà nên cho con cháu xem đọc thường xuyên để nhớ đến ông cha, hiểu rõ cội nguồn của mình để đền ơn đáp nghĩa bảng cách phấn đấu lao động, học tập tốt hơn...
 
(1) Năm 1402, Hồ Hán Thương sai đắp sửa đường sá từ Tây Ðô (Thanh Hóa) đến Hóa Châu; dọc đường đặt phố xá và trạm truyền thư, gọi là đường thiên lí. Lại đánh Champa chiếm thêm Chiêm Ðộng và Cổ Lũy, đặt làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Năm 1403, Hồ Hán Thương đem những người không có ruộng mà có của dời vào Thăng Hoa (Quảng Nam), biên chế thành quân ngũ, chia đất cho họ ở, lại thích tên châu lên cánh tay để làm dấu hiệu. Lại khuyến khích dân nơi khác nộp trâu để cấp cho họ.
(2) Dương Văn An, Ô Châu cận lục, bản dịch: Bùi Lương, Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, 1961, tr. 85.
(3) Ngô Sĩ Liên (khởi thảo), Ðại Việt sử kí toàn thư, bản dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tập II, tr. 229.
(4) Dương Văn An, s.đ.d., tr. 82.
(5) Ngô Sĩ Liên (khởi thảo), s.đ.d., tập II, tr. 33.
(6) Cho đến đầu thế kỉ XIX, ở Bắc có hai xã cùng tên Hồng Khê: xã Hồng Khê thuộc tổng Bối Khê, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam thượng; xã Hồng Khê thuộc tổng Hồng Khê, huyện Duy Tiên, phủ Lị Nhân, trấn Sơn Nam thượng. Trấn Sơn Nam thượng gồm ba phủ (thêm phủ Thường Tín), năm Minh Mạng 3 (1822) đổi làm trấn Sơn Nam, rồi năm Minh Mạng 12 (1831) đặt làm tỉnh Hà Nội (Ứng Thiên đổi Ứng Hòa, Lị Nhân đổi Lí Nhân).
(7) Chú ý sách này, phần Nhân vật môn ghi Lê Văn, nhưng phần tổng luận lại ghi Lê Văn Bàn
(8) Sử Quán triều Nguyễn, Ðại Nam thực lục, bản dịch: Viện Sử Học, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1962, tập I, tr. 32.
(9) Dẫn theo Ðặng Ðình Sơn trong Kỉ yếu hội thảo về danh nhân Ðặng Tất, Ðặng Dung, Huế, ngày 23-8-2002, tr.22.
(10) Chữ trước nay các sách Quốc ngữ chép theo âm húy là Kim, nhưng theo phiên thiết cổ thì phải đọc Cam hay Cám.

 
Theo Lê Nguyễn Lưu

Nguồn tin: www.ivce.org


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 CHÚNG TÔI TRÊN GOOGLE+

 THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Đăng nhập thông qua Facebook

 TIN TỪ DIỄN ĐÀN

  Cung cấp mẫu bàn thờ gia tiên đẹp hiện đại cho gia đình

  • Bởi: sonle3010
  • 01/03/2017
  • Đã xem: 5
Thờ cúng tổ tiên, thần phật là phong tục tập quán lâu đời, và là nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh của dân tộc ta mà không nơi nào có được, thờ cúng tổ tiên thể hiện truyền thống quý báu uống...

  Tìm nguồn gốc họ trương bá

  • Bởi: 1234567
  • 29/08/2016
  • Đã xem: 364
Mọi người cho hỏi Nguồn gốc họ Trương bá ở đâu a. Cụ tổ họ trương bá ở đâu a. BS Trương bá Quân Dt 0904051567 DÒNG HỌ TRƯƠNG BÁ (LÀNG THỊNH MỸ, XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) (BS.CKII....

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập43
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm41
  • Hôm nay1,869
  • Tháng hiện tại62,401
  • Tổng lượt truy cập6,089,778
Quảng cáo Google
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây